Halelu 69
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E HOOLA mai ia'u, e ke Akua; No ka mea, ua komo mai na wai i ko'u uhane.
1Đức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi.
2Ke palemo nei au i ka lepo poho hohonu, kahi e ku ole ai: Ua hiki mai nei au i na wai hohonu; Ke kahe nei no hoi na muliwai maluna o'u.
2Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi.
3Ua luhi au i kuu kahea ana aku, ua maloo kuu puu: Pau e kuu mau maka i ko'u kali ana no kuu Akua.
3Tôi la mệt, cuống họng tôi khô; Mắt tôi hao mòn đang khi trông đợi Đức Chúa Trời tôi.
4Ua lehulehu aku i na lauoho o kuu poo ka poe huhu hala ole mai ia'u; Ua ikaika hoi ka poe manao e pepehi mai ia'u, e ku e hewa mai ana ia'u: Alaila hoihoi aku au i ka mea a'u i kaili ole ai.
4Những kẻ ghen ghét tôi vô cớ Nhiều hơn số tóc đầu tôi; Những kẻ làm thù nghịch tôi vô cớ và muốn hại tôi thật mạnh; Tôi phải bồi thường điều tôi không cướp giựt.
5E ke Akua, ua ike mai oe i ko'u naaupo: Aole hoi i nalo ko'u mau hewa ia oe.
5Đức Chúa Trời ôi! Chúa biết sự ngu dại tôi, Các tội lỗi tôi không giấu Chúa được.
6Mai noho a hoohilahilaia no'u nei ka poe hilinai ia oe, e ka Haku, Iehova Sabaota. Mai noho a hoohokaia no'u nei ka poe imi ia oe, e ke Akua o ka Iseraela.
6Hỡi Chúa Giê-hô-va vạn quân, Nguyện những kẻ trông đợi Chúa chớ bị hổ thẹn vì cớ tôi; Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Nguyện kẻ nào tìm cầu Chúa chớ bị sỉ nhục tại vì việc tôi.
7No ka mea, nou la i halihali ai au i ka hoinoia; Ua uhi mai ka hilahila i ko'u maka.
7Aáy vì Chúa mà tôi đã mang sự nhuốc nhơ, Và bị sự hổ thẹn bao phủ mặt tôi.
8Ua lilo au i malihini i ko'u mau hoahanau, He kanaka e hoi i na keiki a ko'u makuwahine.
8Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, Một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi.
9No ka mea, ua hoopauia au e ka manao ikaika no kou hale: A o na hoino ana o ka poe hoino ia oe, ua haule mai ia maluna iho o'u.
9Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, Sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi.
10A uwe au, a hahau hoi i kuu uhane me ka hookeai ana, Oia ka'u mea i hoinoia mai ai.
10Tôi khóc và nhịn ăn để ép linh hồn tôi, Thì điều đó cũng trở làm sỉ nhục tôi.
11A aahu iho la au i ke kapa ino; Lilo au i mea hoohiki wale ia.
11Tôi lấy bao gai mặc làm áo xống, Bèn trở nên câu tục ngữ cho chúng nó.
12Ua olelo ku e mai ia'u ka poe noho ma ka ipuka; A lilo hoi au i mele na ka poe inu i ka mea ona.
12Những kẻ ngồi nơi cửa thành trò chuyện về tôi; Tôi là đề câu hát của những người uống rượu.
13Aka, owau nei la, aia ia oe ka'u pule, o Iehova, I ka wa maliuia; E ke Akua, ma ka nui o kou aloha, e hoolohe mai ia'u, I ka oiaio o kou ola.
13Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện Mà cầu nguyện cùng Ngài. Đức Chúa Trời ơn, theo sự thương xót lớn của Chúa, Và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi.
14E hoopakele ia'u i ka lepo poho, aole hoi au e palemo: E hoopakeleia au i ka poe inaina mai ia'u, a i na wai hohonu.
14Xin hãy cứu tôi khỏi vũng bùn, kẻo tôi lún chăng; Nguyện tôi được giải thoát khỏi những kẻ ghét tôi, và khỏi nước sâu.
15Mai noho a kahe ka waikahe maluna o'u; Mai noho a ale mai ka hohonu ia'u; Aole hoi e pani ka lua i kona waha maluna o'u.
15Nguyện dòng nước không ngập tôi, Vực sâu chớ nhận tôi, Hầm không lấp miệng nó lại trên tôi.
16E hoolohe mai ia'u, e Iehova, no ka mea, he pono kou lokomaikai; Mamuli o ka nui loa o kou aloha, e maliu mai ia'u.
16Đức Giê-hô-va ơi, xin hãy đáp lại tôi; vì sự nhân từ Ngài là tốt; Tùy sự thương xót lớn của Ngài, xin hãy xây lại cùng tôi.
17Mai hoonalo i kou maka i kau kauwa; No ka mea, ua pilikia au: E hoolohe koke mai oe ia'u.
17Xin Chúa chớ giấu mặt cùng tôi tớ Chúa, vì tôi đang bị gian truân; Hãy mau mau đáp lại tôi.
18E hookokoke mai i kuu uhane, a e hoola mai ia ia: E hoopakele ia'u no ko'u poe enemi.
18Cầu xin Chúa đến gần linh hồn tôi và chuộc nó; Vì cớ kẻ thù nghịch tôi, xin hãy cứu chuộc tôi.
19Ua ike ae nei oe i ko'u hoinoia, ko'u hoohilahilaia, a me ko'u heneheneia: Imua no hoi ou ko'u mau enemi a pau.
19Chúa biết sự sỉ nhục, sự hổ thẹn, và sự nhuốt nhơ của tôi: Các cừu địch tôi đều ở trước mặt Chúa.
20Ua haehae ko'u naau i ka hoinoia mai, a kaumaha loa au; Kali aku la au i mea e menemene mai, aole hoi; A i mau mea hooluolu mai, aole i loaa ia'u.
20Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong-nhờ người an ủi, song nào có gặp.
21Ua haawi mai la lakou i ka mea awahia i ai na'u; A i kuu makewai ana ua hoohainu mai lakou ia'u i ka vinega.
21Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát.
22E lilo no ko lakou papaaina i pahele imua o lakou: A o ko lakou uku i mea e hihia ai.
22Nguyện bàn tiệc trước mặt chúng nó trở nên cái bẫy; Khi chúng nó được bình an, nguyện nó lại trở nên cái lưới.
23E hoopouliia ko lakou mau maka i ike ole lakou; A e hoohaalulu mau no hoi oe i ko lakou mau puhaka.
23Nguyện mắt chúng nó bị tối, không còn thấy, Và hãy làm cho lưng chúng nó hằng run.
24E ninini iho no oe i kou inaina maluna o lakou; A e loohia lakou i kou huhu wela.
24Hãy đổ cơn thạnh nộ Chúa trên chúng nó. Khiến sự giận dữ Chúa theo kịp họ.
25E neoneo no hoi ko lakou hale; Aohe mea e noho iloko o ko lakou mau halelewa.
25Nguyện chỗ ở chúng nó bị bỏ hoang, Chẳng có ai ở trong trại chúng nó nữa.
26No ka mea, ua alualu hewa lakou i ka mea au i hahau ai; A kamailio lakou he mea kaumaha no na mea au e hoeha mai.
26Vì chúng nó bắt bớ kẻ Chúa đã đánh, Và thuật lại sự đau đớn của người mà Chúa đã làm cho bị thương.
27E hookui i ka hewa maluna o ko lakou hewa: Aole hoi lakou e komo iloko o kou hoaponoia.
27Cầu xin Chúa hãy gia tội ác vào tội ác chúng nó; Chớ cho chúng nó vào trong sự công bình của Chúa.
28E hoonaloia lakou mailoko aku o ka buke a ka poe ola, Aole lakou e kakau pu ia me ka poe pono.
28Nguyện chúng nó bị xóa khỏi sách sự sống, Không được ghi chung với người công bình.
29Aka, ua ilihune au a ua kaumaha no hoi; E hookiekie kou ola ia'u, e ke Akua.
29Còn tôi bị khốn cùng và đau đớn: Đức Chúa Trời ơn, nguyện sự cứu rỗi của Chúa nâng đỡ tôi lên nơi cao.
30E hoolea aku au i ka inoa o ke Akua, ma ka himeni; A e hoonui aku ia ia me ka hoomaikai ana.
30Tôi sẽ dùng bài hát mà ngợi khen danh Đức Chúa Trời, Và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.
31Ua oi aku ka pono o keia ia Iehova mamua o ka bipi kane, A o ka bipi opiopio mea pepeiaohao me na maiuu.
31Điều ấy sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn con bò đực, Hoặc con bò đực có sừng và móng rẽ ra.
32E ike hoi ka poe hoohaahaa, a e hauoli hoi: E imi ana i ke Akua, e ola ko oukou naau.
32Những người hiền từ sẽ thấy điều đó và vui mừng; Hỡi các người tìm cầu Đức Chúa Trời, nguyện lòng các ngươi được sống.
33No ka mea, ua hoolohe mai o Iehova i ka poe ilihune; Aole hoi ia i hoowahawaha i kona poe i hoopaaia.
33Vì Đức Giê-hô-va nghe kẻ thiếu thốn, Không khinh dể những phu tù của Ngài.
34E hoomaikai ka lani a me ka honua ia ia; O na kai, a me na mea a pau e holo ana maloko olaila.
34Nguyện trời, đất, biển, Và các vật hay động trong đó, đều ngợi khen Ngài.
35No ka mea, e hoola no ke Akua ia Ziona, A e kukulu hoi i na kulanakauhale o Iuda; I noho lakou ilaila, a e lilo ia no lakou.
35Vì Đức Chúa Trời sẽ cứu Si-ôn, và xây lại các thành Giu-đa; Dân sự sẽ ở đó, được nó làm của.
36E loaa mai no hoi ia i na hua a kana mau kauwa: A malaila e noho ai ka poe makemake i kona inoa.
36Dòng dõi các tôi tớ Ngài sẽ hưởng nó làm sản nghiệp; Phàm ai yêu mến danh Ngài sẽ ở tại đó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.