Psaumes
Chapter 139
Louis Segond 1910
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Psaumes 139

Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Au chef des chantres. De David. Psaume. Éternel! Tu me sondes et tu me connais,
1Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi.
2Tu sais quand je m’assieds et quand je me lève, Tu pénètres de loin ma pensée;
2Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi.
3Tu sais quand je marche et quand je me couche, Et tu pénètres toutes mes voies.
3Chúa xét nét nẻo đàng và sự nằm ngủ tôi, Quen biết các đường lối tôi.
4Car la parole n’est pas sur ma langue, Que déjà, ô Éternel! Tu la connais entièrement.
4Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, Kìa, hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi.
5Tu m’entoures par derrière et par devant, Et tu mets ta main sur moi.
5Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, Đặt tay Chúa trên mình tôi.
6Une science aussi merveilleuse est au-dessus de ma portée, Elle est trop élevée pour que je puisse la saisir.
6Sự tri thức dường ấy, thật diệu k” quá cho tôi, Cao đến đổi tôi không với kịp!
7Où irais-je loin de ton esprit, Et où fuirais-je loin de ta face?
7Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa?
8Si je monte aux cieux, tu y es; Si je me couche au séjour des morts, t’y voilà.
8Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, Ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó.
9Si je prends les ailes de l’aurore, Et que j’aille habiter à l’extrémité de la mer,
9Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, Bay qua ở tại cuối cùng biển,
10Là aussi ta main me conduira, Et ta droite me saisira.
10Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm giữ tôi.
11Si je dis: Au moins les ténèbres me couvriront, La nuit devient lumière autour de moi;
11Nếu tôi nói: Sự tối tăm chắc sẽ che khuất tôi, Aùnh sáng chung quanh tôi trở nên đêm tối,
12Même les ténèbres ne sont pas obscures pour toi, La nuit brille comme le jour, Et les ténèbres comme la lumière.
12Thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, Ban đêm soi sáng như ban ngày, Và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa.
13C’est toi qui as formé mes reins, Qui m’as tissé dans le sein de ma mère.
13Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.
14Je te loue de ce que je suis une créature si merveilleuse. Tes œuvres sont admirables, Et mon âme le reconnaît bien.
14Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.
15Mon corps n’était point caché devant toi, Lorsque j’ai été fait dans un lieu secret, Tissé dans les profondeurs de la terre.
15Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, Chịu nắn nên cách xảo lại nơi thấp của đất, Thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa.
16Quand je n’étais qu’une masse informe, tes yeux me voyaient; Et sur ton livre étaient tous inscrits Les jours qui m’étaient destinés, Avant qu’aucun d’eux existât.
16Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, Đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy.
17Que tes pensées, ô Dieu, me semblent impénétrables! Que le nombre en est grand!
17Hỡi Đức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quí báu cho tôi thay! Số các tư tưởng ấy thật lớn thay!
18Si je les compte, elles sont plus nombreuses que les grains de sable. Je m’éveille, et je suis encore avec toi.
18Nếu tôi muốn đếm các tư tưởng ấy, thì nhiều hơn cát. Khi tôi tỉnh thức tôi còn ở cung Chúa.
19O Dieu, puisses-tu faire mourir le méchant! Hommes de sang, éloignez-vous de moi!
19Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa ắt sẽ giết kẻ ác! Hỡi người huyết, hãy đi khỏi ta.
20Ils parlent de toi d’une manière criminelle, Ils prennent ton nom pour mentir, eux, tes ennemis!
20Chúng nó nói nghịch Chúa cách phớm phỉnh, Kẻ thù nghịch Chúa lấy danh Chúa mà làm chơi.
21Éternel, n’aurais-je pas de la haine pour ceux qui te haïssent, Du dégoût pour ceux qui s’élèvent contre toi?
21Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi há chẳng ghét những kẻ ghét Chúa ư? Há chẳng gớm ghiếc những kẻ dấy nghịch Chúa sao?
22Je les hais d’une parfaite haine; Ils sont pour moi des ennemis.
22Tôi ghét chúng nó, thật là ghét, Cầm chúng nó bằng kẻ thù nghịch tôi.
23Sonde-moi, ô Dieu, et connais mon cœur! Éprouve-moi, et connais mes pensées!
23Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi;
24Regarde si je suis sur une mauvaise voie, Et conduis-moi sur la voie de l’éternité!
24Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.