Psaumes 119
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Heureux ceux qui sont intègres dans leur voie, Qui marchent selon la loi de l’Éternel!
1Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình, Đi theo luật pháp của Đức Giê-hô-va,
2Heureux ceux qui gardent ses préceptes, Qui le cherchent de tout leur cœur,
2Phước cho những người gìn giữ chứng cớ Ngài, Và hết lòng tìm cầu Ngài.
3Qui ne commettent point d’iniquité, Et qui marchent dans ses voies!
3Họ không làm trái phép công bình, Nhưng đi trong các lối Ngài.
4Tu as prescrit tes ordonnances, Pour qu’on les observe avec soin.
4Chúa đã truyền cho chúng tôi các giềng mối Chúa, Hầu cho chúng tôi cẩn thận giữ lấy.
5Puissent mes actions être bien réglées, Afin que je garde tes statuts!
5Ô! chớ chi đường lối tôi được vững chắc, Để tôi giữ các luật lệ Chúa!
6Alors je ne rougirai point, A la vue de tous tes commandements.
6Khi tôi chăm chỉ về các điều răn Chúa, Thì chẳng bị hổ thẹn.
7Je te louerai dans la droiture de mon cœur, En apprenant les lois de ta justice.
7Khi tôi học các đoán ngữ công bình của Chúa, Thì tôi sẽ lấy lòng ngay thẳng mà ngợi khen Chúa.
8Je veux garder tes statuts: Ne m’abandonne pas entièrement!
8Tôi sẽ giữ các luật lệ Chúa; Xin chớ bỏ tôi trọn.
9Comment le jeune homme rendra-t-il pur son sentier? En se dirigeant d’après ta parole.
9Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa.
10Je te cherche de tout mon cœur: Ne me laisse pas égarer loin de tes commandements!
10Tôi hết lòng tìm cầu Chúa, Chớ để tôi lạc các điều răn Chúa.
11Je serre ta parole dans mon cœur, Afin de ne pas pécher contre toi.
11Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa.
12Béni sois-tu, ô Éternel! Enseigne-moi tes statuts!
12Hỡi Đức Giê-hô-va, đáng ngợi khen Ngài. Xin dạy tôi các luật lệ Ngài.
13De mes lèvres j’énumère Toutes les sentences de ta bouche.
13Tôi lấy môi thuật lại Các mạng lịnh miệng Chúa phán ra.
14Je me réjouis en suivant tes préceptes, Comme si je possédais tous les trésors.
14Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, Như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm.
15Je médite tes ordonnances, J’ai tes sentiers sous les yeux.
15Tôi sẽ suy gẫm về giềng mối Chúa, Chăm xem đường lối của Chúa.
16Je fais mes délices de tes statuts, Je n’oublie point ta parole.
16Tôi ưa thích luật lệ Chúa, Sẽ chẳng quên lời của Chúa.
17Fais du bien à ton serviteur, pour que je vive Et que j’observe ta parole!
17Xin Chúa ban ơn lành cho tôi tớ Chúa, để tôi được sống; Thì tôi sẽ giữ lời của Chúa.
18Ouvre mes yeux, pour que je contemple Les merveilles de ta loi!
18Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy Sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa.
19Je suis un étranger sur la terre: Ne me cache pas tes commandements!
19Tôi là người khách lạ trên đất, Xin chớ giấu tôi các điều răn Chúa.
20Mon âme est brisée par le désir Qui toujours la porte vers tes lois.
20Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước Các mạng lịnh Chúa luôn luôn.
21Tu menaces les orgueilleux, ces maudits, Qui s’égarent loin de tes commandements.
21Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, Là kẻ đáng rủa sả, hay lầm lạc các điều răn Chúa.
22Décharge-moi de l’opprobre et du mépris! Car j’observe tes préceptes.
22Xin lăn khỏi tôi sự sỉ nhục và sự khinh dể; Vì tôi gìn giữ các chứng cớ của Chúa,
23Des princes ont beau s’asseoir et parler contre moi, Ton serviteur médite tes statuts.
23Vua chúa cũng ngồi nghị luận nghịch tôi; Song tôi tớ Chúa suy gẫm luật lệ Chúa.
24Tes préceptes font mes délices, Ce sont mes conseillers.
24Các chứng cớ Chúa là sự hỉ lạc tôi, Tức là những mưu sĩ tôi.
25Mon âme est attachée à la poussière: Rends-moi la vie selon ta parole!
25Linh hồn tôi dính vào bụi đất, Xin hãy khiến tôi sống lại tùy theo lời Chúa.
26Je raconte mes voies, et tu m’exauces: Enseigne-moi tes statuts!
26Tôi đã tỏ với Chúa đường lối tôi, Chúa bèn đáp lời tôi; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
27Fais-moi comprendre la voie de tes ordonnances, Et je méditerai sur tes merveilles!
27Cầu Chúa làm cho tôi hiểu biết con đường giềng mối Chúa, Thì tôi sẽ suy gẫm các công việc lạ lùng của Chúa.
28Mon âme pleure de chagrin: Relève-moi selon ta parole!
28Linh hồn tôi, vì ưu sầu, chảy tuôn giọt lệ; Xin hãy làm cho tôi vững bền tùy theo lời Chúa.
29Éloigne de moi la voie du mensonge, Et accorde-moi la grâce de suivre ta loi!
29Xin hãy dang xa tôi con đường dối trá, Làm ơn cho tôi biết luật pháp Chúa.
30Je choisis la voie de la vérité, Je place tes lois sous mes yeux.
30Tôi đã chọn con đường thành tín, Đặt mạng lịnh Chúa trước mặt tôi.
31Je m’attache à tes préceptes: Éternel, ne me rends point confus!
31Tôi tríu mến các chứng cớ Chúa: Đức Giê-hô-va ôi! xin chớ cho tôi bị hổ thẹn.
32Je cours dans la voie de tes commandements, Car tu élargis mon cœur.
32Khi Chúa mở rộng lòng tôi, Thì tôi sẽ chạy theo con đường điều răn Chúa.
33Enseigne-moi, Éternel, la voie de tes statuts, Pour que je la retienne jusqu’à la fin!
33Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỉ dạy tôi con đường luật lệ Chúa, Thì tôi sẽ giữ lấy cho đến cuối cùng.
34Donne-moi l’intelligence, pour que je garde ta loi Et que je l’observe de tout mon cœur!
34Xin hãy ban cho tôi sự thông sáng, thì tôi sẽ vâng theo luật pháp Chúa, Aét sẽ hết lòng gìn giữ lấy.
35Conduis-moi dans le sentier de tes commandements! Car je l’aime.
35Xin hãy khiến tôi đi trong đường điều răn Chúa, Vì tôi lấy làm vui vẻ tại đó.
36Incline mon cœur vers tes préceptes, Et non vers le gain!
36Xin hãy khiến lòng tôi hướng về chứng cớ Chúa, Chớ đừng hướng về sự tham lam.
37Détourne mes yeux de la vue des choses vaines, Fais-moi vivre dans ta voie!
37Xin xây mắt tôi khỏi xem những vật hư không, Làm tôi được sống trong các đường lối Chúa.
38Accomplis envers ton serviteur ta promesse, Qui est pour ceux qui te craignent!
38Xin Chúa làm ứng nghiệm lời Chúa cho kẻ tôi tớ Chúa, Tức là kẻ kính sợ Chúa.
39Éloigne de moi l’opprobre que je redoute! Car tes jugements sont pleins de bonté.
39Xin hãy cất khỏi tôi sự sỉ nhục mà tôi sợ sệt; Vì mạng lịnh Chúa là tốt lành.
40Voici, je désire pratiquer tes ordonnances: Fais-moi vivre dans ta justice!
40Kìa, tôi mong ước các giềng mối Chúa; Xin hãy khiến tôi được sống trong sự công bình Chúa.
41Éternel, que ta miséricorde vienne sur moi, Ton salut selon ta promesse!
41Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện sự nhân từ Ngài đến cùng tôi, Tức là sự cứu rỗi của Ngài tùy lời phán Ngài!
42Et je pourrai répondre à celui qui m’outrage, Car je me confie en ta parole.
42Vậy, tôi sẽ có thế đáp lại cùng kẻ làm sỉ nhục tôi; Vì tôi tin cậy nơi lời Chúa.
43N’ôte pas entièrement de ma bouche la parole de la vérité! Car j’espère en tes jugements.
43Xin chớ cất hết lời chân thật khỏi miệng tôi; Vì tôi trông cậy nơi mạng lịnh Chúa.
44Je garderai ta loi constamment, A toujours et à perpétuité.
44Tôi sẽ hằng gìn giữ luật pháp Chúa Cho đến đời đời vô cùng.
45Je marcherai au large, Car je recherche tes ordonnances.
45Tôi cũng sẽ bước đi thong dong, Vì đã tìm kiếm các giềng mối Chúa.
46Je parlerai de tes préceptes devant les rois, Et je ne rougirai point.
46Cũng sẽ nói về chứng cớ Chúa trước mặt các vua, Không phải mất cỡ chút nào.
47Je fais mes délices de tes commandements. Je les aime.
47Tôi sẽ vui vẻ về điều răn Chúa, Là điều răn tôi yêu mến.
48Je lève mes mains vers tes commandements que j’aime, Et je veux méditer tes statuts.
48Tôi cũng sẽ giơ tay lên hướng về điều răn Chúa mà tôi yêu mến, Và suy gẫm các luật lệ Chúa.
49Souviens-toi de ta promesse à ton serviteur, Puisque tu m’as donné l’espérance!
49Xin Chúa nhớ lại lời Chúa phán cho tôi tớ Chúa, Vì Chúa khiến tôi trông cậy.
50C’est ma consolation dans ma misère, Car ta promesse me rend la vie.
50Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, Aáy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn.
51Des orgueilleux me chargent de railleries; Je ne m’écarte point de ta loi.
51Kẻ kiêu ngạo nhạo báng tôi nhiều quá, Nhưng tôi không xây bỏ luật pháp Chúa.
52Je pense à tes jugements d’autrefois, ô Éternel! Et je me console.
52Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đã nhớ lại mạng lịnh Ngài khi xưa, Nên tôi được an ủi.
53Une colère ardente me saisit à la vue des méchants Qui abandonnent ta loi.
53Nhân vì kẻ ác bỏ luật pháp Chúa. Cơn giận nóng nảy hãm bắt tôi.
54Tes statuts sont le sujet de mes cantiques, Dans la maison où je suis étranger.
54Các luật lệ Chúa làm bài hát tôi Tại nhà tôi ở làm khách lạ.
55La nuit je me rappelle ton nom, ô Éternel! Et je garde ta loi.
55Hỡi Đức Giê-hô-va, ban đêm tôi nhớ lại danh Ngài, Cũng gìn giữ luật pháp Ngài.
56C’est là ce qui m’est propre, Car j’observe tes ordonnances.
56Phần tôi đã được, Là vì tôi có gìn giữ các giềng mối Chúa.
57Ma part, ô Éternel! Je le dis, C’est de garder tes paroles.
57Đức Giê-hô-va là phần của tôi: Tôi đã nói sẽ gìn giữ lời Chúa.
58Je t’implore de tout mon cœur: Aie pitié de moi, selon ta promesse!
58Tôi đã hết lòng cầu khẩn ơn Chúa, Xin hãy thương xót tôi tùy lời của Chúa.
59Je réfléchis à mes voies, Et je dirige mes pieds vers tes préceptes.
59Tôi tư tưởng về đường lối tôi, Bèn trở bước tôi về chứng cớ Chúa.
60Je me hâte, je ne diffère point D’observer tes commandements.
60Tôi lật đật, không chậm trễ, Mà gìn giữ các điều răn Chúa.
61Les pièges des méchants m’environnent; Je n’oublie point ta loi.
61Dây kẻ ác đã vương vấn tôi; Nhưng tôi không quên luật pháp Chúa.
62Au milieu de la nuit je me lève pour te louer, A cause des jugements de ta justice.
62Nhân vì các mạng lịnh công bình của Chúa, Tôi sẽ thức-dậy giữa đêm đặng cảm tạ Chúa.
63Je suis l’ami de tous ceux qui te craignent, Et de ceux qui gardent tes ordonnances.
63Tôi là bạn hữu của mọi người kính sợ Chúa, Và của mọi kẻ giữ theo các giềng mối Chúa.
64La terre, ô Éternel! Est pleine de ta bonté; Enseigne-moi tes statuts!
64Hỡi Đức Giê-hô-va, đất được đầy dẫy sự nhân từ Ngài; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Ngài.
65Tu fais du bien à ton serviteur, O Éternel! Selon ta promesse.
65Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã hậu đãi kẻ tôi tớ Ngài Tùy theo lời của Ngài.
66Enseigne-moi le bon sens et l’intelligence! Car je crois à tes commandements.
66Xin hãy dạy tôi lẽ phải và sự hiểu biết, Vì tôi tin các điều răn Chúa.
67Avant d’avoir été humilié, je m’égarais; Maintenant j’observe ta parole.
67Trước khi chưa bị hoạn nạn, thì tôi lầm lạc; Nhưng bây giờ tôi gìn giữ lời Chúa.
68Tu es bon et bienfaisant; Enseigne-moi tes statuts!
68Chúa là thiện và hay làm lành; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
69Des orgueilleux imaginent contre moi des faussetés; Moi, je garde de tout mon cœur tes ordonnances.
69Kẻ kiêu ngạo đã đặt lời nói dối hại tôi; Tôi sẽ hết lòng gìn giữ giềng mối của Chúa.
70Leur cœur est insensible comme la graisse; Moi, je fais mes délices de ta loi.
70Lòng chúng nó dày như mỡ, Còn tôi ưa thích luật pháp của Chúa.
71Il m’est bon d’être humilié, Afin que j’apprenne tes statuts.
71Tôi đã bị hoạn nạn thật lấy làm phải, Hầu cho học theo luật lệ của Chúa.
72Mieux vaut pour moi la loi de ta bouche Que mille objets d’or et d’argent.
72Luật pháp của miệng Chúa phán là quí cho tôi Hơn hằng ngàn đồng vàng và bạc.
73Tes mains m’ont créé, elles m’ont formé; Donne-moi l’intelligence, pour que j’apprenne tes commandements!
73Bàn tay Chúa đã làm tôi và nắn hình tôi; Xin hãy ban cho tôi trí hiểu, để tôi học điều răn Chúa.
74Ceux qui te craignent me voient et se réjouissent, Car j’espère en tes promesses.
74Những người kính sợ Chúa thấy tôi sẽ vui vẻ; Vì tôi trông cậy lời của Chúa.
75Je sais, ô Éternel! Que tes jugements sont justes; C’est par fidélité que tu m’as humilié.
75Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết rằng sự xét đoán của Ngài là công bình, Và ấy là bởi sự thành tín mà Ngài làm cho tôi bị khổ nạn.
76Que ta bonté soit ma consolation, Comme tu l’as promis à ton serviteur!
76Chúa ơi, nguyện sự nhân từ Chúa an ủi tôi, Y như Chúa đã phán cùng kẻ tôi tớ Chúa.
77Que tes compassions viennent sur moi, pour que je vive! Car ta loi fait mes délices.
77Nguyện sự thương xót Chúa đến cùng tôi, để tôi được sống; Vì luật pháp Chúa là điều tôi ưa thích.
78Qu’ils soient confondus, les orgueilleux qui m’oppriment sans cause! Moi, je médite sur tes ordonnances.
78Nguyện kẻ kiêu ngạo bị hổ thẹn, vì chúng nó dùng sự giả dối mà đánh đổ tôi; Song tôi sẽ suy gẫm các giềng mối Chúa.
79Qu’ils reviennent à moi, ceux qui te craignent, Et ceux qui connaissent tes préceptes!
79Nguyện những kẻ kính sợ Chúa Trở lại cùng tôi, thì họ sẽ biết chứng cớ của Chúa.
80Que mon cœur soit sincère dans tes statuts, Afin que je ne sois pas couvert de honte!
80Nguyện lòng tôi được trọn vẹn trong các luật lệ Chúa, Hầu cho tôi không bị hổ thẹn.
81Mon âme languit après ton salut; J’espère en ta promesse.
81Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Song tôi trông cậy lời của Chúa.
82Mes yeux languissent après ta promesse; Je dis: Quand me consoleras-tu?
82Mắt tôi hao mòn vì mong ước lời Chúa; Tôi nói: Bao giờ Chúa sẽ an ủi tôi?
83Car je suis comme une outre dans la fumée; Je n’oublie point tes statuts.
83Vì tôi trở thành như bầu da bị khói đóng đen; Nhưng tôi không quên các luật lệ Chúa.
84Quel est le nombre des jours de ton serviteur? Quand feras-tu justice de ceux qui me persécutent?
84Số các ngày kẻ tôi tớ Chúa được bao nhiêu? Chừng nào Chúa sẽ đoán xét những kẻ bắt bớ tôi?
85Des orgueilleux creusent des fosses devant moi; Ils n’agissent point selon ta loi.
85Kẻ kiêu ngạo đã đào hầm hại tôi, Là việc chẳng làm theo luật pháp của Chúa.
86Tous tes commandements ne sont que fidélité; Ils me persécutent sans cause: secours-moi!
86Các điều răn Chúa là thành tín; Thiên hạ dùng sự giả dối bắt bớ tôi; xin Chúa giúp đỡ tôi.
87Ils ont failli me terrasser et m’anéantir; Et moi, je n’abandonne point tes ordonnances.
87Thiếu điều chúng nó diệt tôi khỏi mặt đất; Nhưng tôi không lìa bỏ các giềng mối Chúa.
88Rends-moi la vie selon ta bonté, Afin que j’observe les préceptes de ta bouche!
88Xin hãy làm cho tôi được sống, tùy theo sự nhân từ Chúa, Thì tôi sẽ gìn giữ chứng cớ của miệng Chúa.
89A toujours, ô Éternel! Ta parole subsiste dans les cieux.
89Hỡi Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời:
90De génération en génération ta fidélité subsiste; Tu as fondé la terre, et elle demeure ferme.
90Sự thành tín Chúa còn đời nầy đến đời kia. Chúa đã lập trái đất, đất còn vững bền.
91C’est d’après tes lois que tout subsiste aujourd’hui, Car toutes choses te sont assujetties.
91Tùy theo mạng lịnh Chúa, các điều đó còn vững đến ngày nay; Vì muôn vật đều hầu việc Chúa.
92Si ta loi n’eût fait mes délices, J’eusse alors péri dans ma misère.
92Nếu luật pháp Chúa không làm sự tôi ưa thích, Aét tôi đã bị diệt vong trong cơn hoạn nạn.
93Je n’oublierai jamais tes ordonnances, Car c’est par elles que tu me rends la vie.
93Tôi chẳng hề quên giềng mối Chúa, Vì nhờ đó Chúa làm cho tôi được sống.
94Je suis à toi: sauve-moi! Car je recherche tes ordonnances.
94Tôi thuộc về Chúa, xin hãy cứu tôi; Vì tôi tìm kiếm các giềng mối Chúa.
95Des méchants m’attendent pour me faire périr; Je suis attentif à tes préceptes.
95Những kẻ ác rình giết tôi; Nhưng tôi chăm chỉ về các chứng cớ Chúa,
96Je vois des bornes à tout ce qui est parfait: Tes commandements n’ont point de limite.
96Tôi đã thấy sự cùng tận của mọi vật trọn vẹn; Song luật pháp Chúa lấy làm rộng thay.
97Combien j’aime ta loi! Elle est tout le jour l’objet de ma méditation.
97Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy.
98Tes commandements me rendent plus sage que mes ennemis, Car je les ai toujours avec moi.
98Các điều răn Chúa làm cho tôi khôn ngoan hơn kẻ thù nghịch tôi, Vì các điều răn ấy ở cùng tôi luôn luôn.
99Je suis plus instruit que tous mes maîtres, Car tes préceptes sont l’objet de ma méditation.
99Tôi có trí hiểu hơn hết thảy kẻ dạy tôi, Vì tôi suy gẫm các chứng cớ Chúa.
100J’ai plus d’intelligence que les vieillards, Car j’observe tes ordonnances.
100Tôi thông hiểu hơn kẻ già cả, Vì có gìn giữ các giềng mối Chúa.
101Je retiens mon pied loin de tout mauvais chemin, Afin de garder ta parole.
101Tôi giữ chân tôi khỏi mọi đường tà, Để gìn giữ lời của Chúa.
102Je ne m’écarte pas de tes lois, Car c’est toi qui m’enseignes.
102Tôi không xây bỏ mạng lịnh Chúa; Vì Chúa đã dạy dỗ tôi.
103Que tes paroles sont douces à mon palais, Plus que le miel à ma bouche!
103Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!
104Par tes ordonnances je deviens intelligent, Aussi je hais toute voie de mensonge.
104Nhờ giềng mối Chúa tôi được sự thông sáng; Vì vậy, tôi ghét mọi đường giả dối.
105Ta parole est une lampe à mes pieds, Et une lumière sur mon sentier.
105Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Aùnh sáng cho đường lối tôi.
106Je jure, et je le tiendrai, D’observer les lois de ta justice.
106Tôi đã thề gìn giữ mạng lịnh công bình của Chúa, Và cũng đã làm theo sự thề ấy.
107Je suis bien humilié: Éternel, rends-moi la vie selon ta parole!
107Đức Giê-hô-va ôi! tôi bị khổ nạn quá đỗi; Xin hãy làm cho tôi được sống tùy theo lời của Ngài.
108Agrée, ô Éternel! Les sentiments que ma bouche exprime, Et enseigne-moi tes lois!
108Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhậm lễ lạc ý của miệng tôi, Và dạy dỗ tôi các mạng lịnh Ngài.
109Ma vie est continuellement exposée, Et je n’oublie point ta loi.
109Mạng sống tôi hằng bị cơn nguy hiểm, Nhưng tôi không quên luật pháp Chúa.
110Des méchants me tendent des pièges, Et je ne m’égare pas loin de tes ordonnances.
110Những kẻ ác gài bẫy hại tôi; Song tôi không lìa bỏ giềng mối Chúa.
111Tes préceptes sont pour toujours mon héritage, Car ils sont la joie de mon cœur.
111Chứng cớ Chúa là cơ nghiệp tôi đến đời đời; Vì ấy là sự mừng rỡ của lòng tôi.
112J’incline mon cœur à pratiquer tes statuts, Toujours, jusqu’à la fin.
112Tôi chuyên lòng làm theo luật lệ Chúa Luôn luôn, và cho đến cuối cùng.
113Je hais les hommes indécis, Et j’aime ta loi.
113Tôi ghét những kẻ hai lòng, Nhưng yêu mến luật pháp của Chúa.
114Tu es mon asile et mon bouclier; J’espère en ta promesse.
114Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của tôi; Tôi trông cậy nơi lời Chúa.
115Éloignez-vous de moi, méchants, Afin que j’observe les commandements de mon Dieu!
115Hỡi kẻ làm ác, hãy lìa khỏi ta, Để ta giữ điều răn của Đức Chúa Trời ta.
116Soutiens-moi selon ta promesse, afin que je vive, Et ne me rends point confus dans mon espérance!
116Xin Chúa nâng đỡ tôi tùy lời của Chúa, hầu cho tôi được sống; Chớ để tôi bị hổ thẹn về sự trông cậy tôi.
117Sois mon appui, pour que je sois sauvé, Et que je m’occupe sans cesse de tes statuts!
117Xin hãy nâng đỡ tôi, thì tôi sẽ được bình an vô sự, Cũng thường thường chăm chỉ về các luật lệ của Chúa.
118Tu méprises tous ceux qui s’écartent de tes statuts, Car leur tromperie est sans effet.
118Chúa từ chối những kẻ lầm lạc luật lệ Chúa; Vì mưu chước chúng nó chỉ là sự giả dối mà thôi.
119Tu enlèves comme de l’écume tous les méchants de la terre; C’est pourquoi j’aime tes préceptes.
119Chúa cất bỏ kẻ ác khỏi thế gian như xác bã; Nhân đó tôi yêu mến các chứng cớ của Chúa.
120Ma chair frissonne de l’effroi que tu m’inspires, Et je crains tes jugements.
120Thịt tôi rỡn ốc vì sợ hãi Chúa, Cũng sợ sự đoán xét của Chúa.
121J’observe la loi et la justice: Ne m’abandonne pas à mes oppresseurs!
121Tôi đã làm điều ngay thẳng và công bình; Chớ phó tôi cho kẻ hà hiếp tôi.
122Prends sous ta garantie le bien de ton serviteur, Ne me laisse pas opprimer par des orgueilleux!
122Xin Chúa làm Đấng bảo lãnh cho kẻ tôi tớ Chúa được phước; Chớ để kẻ kiêu ngạo hà hiếp tôi.
123Mes yeux languissent après ton salut, Et après la promesse de ta justice.
123Mắt tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi. Và lời công bình của Chúa.
124Agis envers ton serviteur selon ta bonté, Et enseigne-moi tes statuts!
124Xin hãy đãi kẻ tôi tớ Chúa theo sự nhân từ Chúa, Và dạy tôi các luật lệ Chúa.
125Je suis ton serviteur: donne-moi l’intelligence, Pour que je connaisse tes préceptes!
125Tôi là kẻ tôi tớ Chúa; xin hãy ban cho tôi sự thông sáng, Để tôi hiểu biết các chứng cớ của Chúa.
126Il est temps que l’Éternel agisse: Ils transgressent ta loi.
126Phải thì cho Đức Giê-hô-va làm, Vì loài người đã phế luật pháp Ngài.
127C’est pourquoi j’aime tes commandements, Plus que l’or et que l’or fin;
127Nhân đó tôi yêu mến điều răn Chúa Hơn vàng, thậm chí hơn vàng ròng.
128C’est pourquoi je trouve justes toutes tes ordonnances, Je hais toute voie de mensonge.
128Vì vậy, tôi xem các giềng mối Chúa về muôn vật là phải; Tôi ghét mọi đường giả dối.
129Tes préceptes sont admirables: Aussi mon âme les observe.
129Chứng cớ Chúa thật lạ lùng; Cho nên lòng tôi giữ lấy.
130La révélation de tes paroles éclaire, Elle donne de l’intelligence aux simples.
130Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, Ban sự thông hiểu cho người thật thà.
131J’ouvre la bouche et je soupire, Car je suis avide de tes commandements.
131Tôi mở miệng ra thở, Vì rất mong ước các điều răn Chúa.
132Tourne vers moi ta face, et aie pitié de moi, Selon ta coutume à l’égard de ceux qui aiment ton nom!
132Xin Chúa hãy xây lại cùng tôi, và thương xót tôi, Y như thói thường Chúa đối cùng người yêu mến danh Chúa.
133Affermis mes pas dans ta parole, Et ne laisse aucune iniquité dominer sur moi!
133Xin hãy làm cho bước tôi vững trong lời Chúa; Chớ để sự gian ác gì lấn lướt trên tôi.
134Délivre-moi de l’oppression des hommes, Afin que je garde tes ordonnances!
134Xin hãy chuộc tôi khỏi sự hà hiếp của loài người, Thì tôi sẽ giữ theo các giềng mối Chúa.
135Fais luire ta face sur ton serviteur, Et enseigne-moi tes statuts!
135Xin hãy làm cho mặt Chúa soi sáng trên kẻ tôi tớ Chúa, Và dạy tôi các luật lệ Chúa.
136Mes yeux répandent des torrents d’eaux, Parce qu’on n’observe point ta loi.
136Những suối lệ chảy từ mắt tôi, Bởi vì người ta không giữ luật pháp của Chúa.
137Tu es juste, ô Éternel! Et tes jugements sont équitables;
137Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là công bình, Sự đoán xét của Ngài là ngay thẳng.
138Tu fondes tes préceptes sur la justice Et sur la plus grande fidélité.
138Chúa lấy sự công bình, sự thành tín, Mà truyền ra chứng cớ của Chúa.
139Mon zèle me consume, Parce que mes adversaires oublient tes paroles.
139Sự sốt sắng tiêu hao tôi, Vì kẻ hà hiếp tôi đã quên lời Chúa.
140Ta parole est entièrement éprouvée, Et ton serviteur l’aime.
140Lời Chúa rất là tinh sạch, Nên kẻ tôi tớ Chúa yêu mến lời ấy.
141Je suis petit et méprisé; Je n’oublie point tes ordonnances.
141Tôi nhỏ hèn, bị khinh dể, Nhưng không quên các giềng mối Chúa.
142Ta justice est une justice éternelle, Et ta loi est la vérité.
142Sự công bình Chúa là sự công bình đời đời, Luật pháp Chúa là chân thật.
143La détresse et l’angoisse m’atteignent: Tes commandements font mes délices.
143Sự gian truân và sự sầu khổ áp hãm tôi; Dầu vậy, các điều răn Chúa là điều tôi ưa thích.
144Tes préceptes sont éternellement justes: Donne-moi l’intelligence, pour que je vive!
144Chứng cớ Chúa là công bình đời đời. Xin hãy ban cho tôi sự thông hiểu, thì tôi sẽ được sống.
145Je t’invoque de tout mon cœur: exauce-moi, Éternel, Afin que je garde tes statuts!
145Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi hết lòng kêu cầu Ngài; xin hãy đáp lại tôi; Tôi sẽ gìn giữ luật lệ Ngài.
146Je t’invoque: sauve-moi, Afin que j’observe tes préceptes!
146Tôi đã kêu cầu Chúa; xin hãy cứu tôi, Thì tôi sẽ giữ các chứng cớ Chúa.
147Je devance l’aurore et je crie; J’espère en tes promesses.
147Tôi thức trước rạng đông và kêu cầu; Tôi trông cậy nơi lời Chúa.
148Je devance les veilles et j’ouvre les yeux, Pour méditer ta parole.
148Canh đêm chưa khuya, mắt tôi mở tỉnh ra, Đặng suy gẫm lời Chúa.
149Écoute ma voix selon ta bonté! Rends-moi la vie selon ton jugement!
149Hỡi Đức Giê-hô-va, theo sự nhân từ Ngài, xin hãy nghe tiếng tôi; Hãy khiến tôi được sống tùy mạng lịnh Ngài.
150Ils s’approchent, ceux qui poursuivent le crime, Ils s’éloignent de la loi.
150Những kẻ đeo đuổi sự dữ đến gần; Chúng nó cách xa luật pháp của Chúa.
151Tu es proche, ô Éternel! Et tous tes commandements sont la vérité.
151Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần; Các điều răn Ngài là chân thật.
152Dès longtemps je sais par tes préceptes Que tu les as établis pour toujours.
152Cứ theo chứng cớ Chúa Tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời.
153Vois ma misère, et délivre-moi! Car je n’oublie point ta loi.
153Xin hãy xem nỗi khổ nạn tôi, và giải cứu tôi; Vì tôi không quên luật pháp của Chúa.
154Défends ma cause, et rachète-moi; Rends-moi la vie selon ta promesse!
154Xin hãy binh vực duyên cớ tôi, và chuộc tôi; Cũng hãy khiến tôi được sống tùy theo lời Chúa.
155Le salut est loin des méchants, Car ils ne recherchent pas tes statuts.
155Sự cứu rỗi cách xa kẻ ác, Vì chúng nó không tìm hỏi các luật lệ Chúa.
156Tes compassions sont grandes, ô Éternel! Rends-moi la vie selon tes jugements!
156Đức Giê-hô-va ơi, sự thương xót Ngài rất lớn; Xin hãy khiến tôi được sống tùy theo luật lệ Ngài.
157Mes persécuteurs et mes adversaires sont nombreux; Je ne m’écarte point de tes préceptes,
157Kẻ bắt bớ và kẻ hà hiếp tôi thật nhiều lắm; Nhưng tôi không xây bỏ chứng cớ Chúa.
158Je vois avec dégoût des traîtres Qui n’observent pas ta parole.
158Tôi thấy kẻ gian tà, bèn gớm ghiếc chúng nó; Vì chúng nó không giữ lời Chúa.
159Considère que j’aime tes ordonnances: Éternel, rends-moi la vie selon ta bonté!
159Xin hãy xem tôi yêu mến giềng mối Chúa dường bao! Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy khiến tôi được sống tùy sự nhân từ Ngài.
160Le fondement de ta parole est la vérité, Et toutes les lois de ta justice sont éternelles.
160Sự tổng cọng lời của Chúa là chân thật, Các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời.
161Des princes me persécutent sans cause; Mais mon cœur ne tremble qu’à tes paroles.
161Những vua chúa đã bắt bớ tôi vô cớ, Song lòng tôi kính sợ lời Chúa.
162Je me réjouis de ta parole, Comme celui qui trouve un grand butin.
162Tôi vui vẻ về lời Chúa, Khác nào kẻ tìm được mồi lớn.
163Je hais, je déteste le mensonge; J’aime ta loi.
163Tôi ghét, tôi ghê sự dối trá, Song tôi yêu mến luật pháp Chúa.
164Sept fois le jour je te célèbre, A cause des lois de ta justice.
164Mỗi ngày tôi ngợi khen Chúa bảy lần, Vì cớ mạng lịnh công bình của Chúa.
165Il y a beaucoup de paix pour ceux qui aiment ta loi, Et il ne leur arrive aucun malheur.
165Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã.
166J’espère en ton salut, ô Éternel! Et je pratique tes commandements.
166Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi có trông cậy nơi sự cứu rỗi của Ngài. Và làm theo các điều răn Ngài.
167Mon âme observe tes préceptes, Et je les aime beaucoup.
167Linh hồn tôi đã gìn giữ chứng cớ Chúa. Tôi yêu mến chứng cớ ấy nhiều lắm.
168Je garde tes ordonnances et tes préceptes, Car toutes mes voies sont devant toi.
168Tôi có gìn giữ giềng mối và chứng cớ Chúa, Bởi vì đường lối tôi đều ở trước mặt Chúa.
169Que mon cri parvienne jusqu’à toi, ô Éternel! Donne-moi l’intelligence, selon ta promesse!
169Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện tiếng kêu của tôi thấu đến Ngài. Xin hãy ban cho tôi sự thông sáng tùy theo lời Chúa.
170Que ma supplication arrive jusqu’à toi! Délivre-moi, selon ta promesse!
170Nguyện lời cầu khẩn tôi thấu đến trước mặt Chúa; Xin hãy giải cứu tôi tùy theo lời Chúa.
171Que mes lèvres publient ta louange! Car tu m’enseignes tes statuts.
171Nguyện môi miệng tôi đồn ra sự ngợi khen Chúa; Vì Chúa dạy tôi các luật lệ Chúa.
172Que ma langue chante ta parole! Car tous tes commandements sont justes.
172Nguyện lưỡi tôi hát xướng về lời Chúa; Vì hết thảy điều răn Chúa là công bình.
173Que ta main me soit en aide! Car j’ai choisi tes ordonnances.
173Nguyện tay Chúa sẵn giúp đỡ tôi; Vì tôi chọn các giềng mối Chúa.
174Je soupire après ton salut, ô Éternel! Et ta loi fait mes délices.
174Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Luật pháp Chúa là sự tôi ưa thích.
175Que mon âme vive et qu’elle te loue! Et que tes jugements me soutiennent!
175Nguyện linh hồn tôi được sống, thì nó sẽ ngợi khen Chúa; Nguyện mạng lịnh Chúa giúp đỡ tôi.
176Je suis errant comme une brebis perdue: cherche ton serviteur, Car je n’oublie point tes commandements.
176Tôi xiêu lạc khác nào con chiên mất: Xin hãy tìm kiếm kẻ tôi tớ Chúa, Vì tôi không quên điều răn của Chúa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.