Псалмул 42
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptTranslation
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Кум дореште ун черб извоареле де апэ, аша Те дореште суфлетул меу пе Тине, Думнезеуле!
1Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, Như con nai cái thèm khát khe nước.
2Суфлетул меу ынсетязэ дупэ Думнезеу, дупэ Думнезеул чел виу; кынд мэ вой дуче ши мэ вой арэта ынаинтя луй Думнезеу?
2Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?
3Ку лакримь мэ хрэнеск зи ши ноапте, кынд ми се зиче фэрэ ынчетаре: „Унде есте Думнезеул тэу?”
3Đang khi người ta hằng hỏi tôi: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì nước mắt làm đồ ăn tôi ngày và đêm.
4Мь-адук аминте ши-мь вэрс тот фокул инимий ын мине кынд мэ гындеск кум мерӂям ынконжурат де мулциме ши кум ынаинтам ын фрунтя ей спре Каса луй Думнезеу, ын мижлокул стригэтелор де букурие ши мулцумире але уней мулцимь ын сэрбэтоаре.
4Xưa tôi đi cùng đoàn chúng, Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời, Có tiếng reo mừng và khen ngợi. Một đoàn đông giữ lễ; Rày tôi nhớ lại điều ấy, và lòng buồn thảm.
5Пентру че те мыхнешть, суфлете, ши ӂемь ынэунтрул меу? Нэдэждуеште ын Думнезеу, кэч ярэшь Ыл вой лэуда; Ел есте мынтуиря мя ши Думнезеул меу.
5Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn ngợi khen Ngài nữa; Vì nhờ mặt Ngài, bèn được cứu rỗi.
6Ымь есте мыхнит суфлетул ын мине, Думнезеуле, де ачея ла Тине мэ гындеск дин цара Йорданулуй, дин Хермон ши дин мунтеле Мицеар.
6Đức Chúa Trời tôi ôi! linh hồn tôi bị sờn ngã trong mình tôi; Nên từ xứ Giô-đanh, Từ núi Hẹt-môn, và từ gò Mít-sê-a, tôi nhớ đến Chúa.
7Ун вал кямэ ун алт вал ла вуетул кэдерий апелор Тале; тоате талазуриле ши валуриле Тале трек песте мине.
7Vực gọi vực theo tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi.
8Зиуа, Домнул ымь дэдя ындураря Луй, яр ноаптя, кынтам лауделе Луй ши ынэлцам о ругэчуне Думнезеулуй веций меле.
8Dầu vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va sẽ sai khiến sự nhân từ Ngài; Còn ban đêm bài hát Ngài ở cùng tôi, Tức là bài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời của mạng sống tôi.
9Де ачея зик луй Думнезеу, Стынка мя: „Пентру че мэ уйць? Пентру че требуе сэ умблу плин де ынтристаре суб апэсаря врэжмашулуй?”
9Tôi sẽ thưa cùng Đức Chúa Trời, là hòn đá tôi, rằng: Cớ sao Chúa quên tôi? Nhân sao tôi phải buồn thảm Vì cớ kẻ thù nghịch hà hiếp tôi?
10Паркэ ми се сфэрымэ оаселе ку сабия кынд мэ батжокореск врэжмаший мей ши-мь зик неынчетат: „Унде есте Думнезеул тэу?”
10Trong khi những cừu địch tôi hằng ngày hỏi rằng: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì chúng nó sỉ nhục tôi khác nào làm gãy các xương cốt tôi.
11Пентру че те мыхнешть, суфлете, ши ӂемь ынэунтрул меу? Нэдэждуеште ын Думнезеу, кэч ярэшь Ыл вой лэуда; Ел есте мынтуиря мя ши Думнезеул меу.
11Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa: Ngài là sự cứu rỗi của mặt ta, và là Đức Chúa Trời ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.