Tingtoeng 42
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Rhangrhaeh loh sokca tui a phoe bangla ka hinglu loh Pathen namah te m'phoe.
1Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, Như con nai cái thèm khát khe nước.
2Pathen tah mulhing Pathen oeh dongah ka hinglu loh halthi sut. Me vaengah nim ka caeh vetih Pathen maelhmai ka hmuh ve?
2Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?
3Hnin at puet kai taengah, “Na Pathen ta melae?,” a ti dongah khoyin khothaih ah ka mikphi te kai ham buh la om coeng.
3Đang khi người ta hằng hỏi tôi: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì nước mắt làm đồ ăn tôi ngày và đêm.
4Hekah he ka poek vaengah ka hinglu loh ka khuiah paeng. Amih loh Pathen im ah uemonah tamlung ol neh a lilup la a lam uh vaengah ka cet sui tih rhoiding neh vawlhvawlh ka van lah sue.
4Xưa tôi đi cùng đoàn chúng, Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời, Có tiếng reo mừng và khen ngợi. Một đoàn đông giữ lễ; Rày tôi nhớ lại điều ấy, và lòng buồn thảm.
5Ka hinglu loh ba dongah na ngam sut tih ka khuiah huenghueng na ko? Amah hmai kah khangnah ka uem ham pueng dongah Pathen te ngaiuep lah.
5Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn ngợi khen Ngài nữa; Vì nhờ mặt Ngài, bèn được cứu rỗi.
6Aw ka Pathen, ka khuikah ka hinglu loh ngam sut coeng. Te dongah Jordan kho neh Hermon som lamkah, Mizar tlang lamkah nang kan ngaidam ni.
6Đức Chúa Trời tôi ôi! linh hồn tôi bị sờn ngã trong mình tôi; Nên từ xứ Giô-đanh, Từ núi Hẹt-môn, và từ gò Mít-sê-a, tôi nhớ đến Chúa.
7Na tuikun ol neh tuidung te tuidung taengla patoeng a khue. Na tuiphu neh na tuilae boeih loh kai soah n'li.
7Vực gọi vực theo tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi.
8Tedae BOEIPA loh khothaih ah a sitlohnah a uen dongah khoyin ah a lumlaa neh ka hingnah Pathen taengah thangthuinah ka khueh.
8Dầu vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va sẽ sai khiến sự nhân từ Ngài; Còn ban đêm bài hát Ngài ở cùng tôi, Tức là bài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời của mạng sống tôi.
9Ka thaelpang Pathen taengah, “Ba ham lae kai nan hnilh. Thunkha kah hnaemtaek dongah ba ham lae kopang neh ka van eh?,” ka ti nah.
9Tôi sẽ thưa cùng Đức Chúa Trời, là hòn đá tôi, rằng: Cớ sao Chúa quên tôi? Nhân sao tôi phải buồn thảm Vì cớ kẻ thù nghịch hà hiếp tôi?
10Kamah kah puencak vaengah amih loh kai taengah hnin at puet, “Na Pathen te melae,” a ti uh tih kai m'veet uh dongah ka rhuh vingving nuei.
10Trong khi những cừu địch tôi hằng ngày hỏi rằng: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì chúng nó sỉ nhục tôi khác nào làm gãy các xương cốt tôi.
11Aw ka hinglu badongah na ngam sut tih ka khuiah huenghueng ko? Pathen te ngaiuep lah. Ka hmai kah khangnah neh ka Pathen amah te ka uem dae mako.
11Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa: Ngài là sự cứu rỗi của mặt ta, và là Đức Chúa Trời ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.