Tingtoeng 7
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ka BOEIPA Pathen, namah dongah ka ying. Kai aka hloem rhoek boeih taeng lamkah kai n'khang lamtah kai n'huul dae.
1Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, tôi nương náu mình nơi Ngài; Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ rượt đuổi tôi, và thoát giải tôi,
2Sathueng bangla ka hinglu he pat a ngaeh vetih, aka huul om pawt ve.
2Kẻo kẻ thù nghịch xé tôi như con sư tử, Và phân tôi từ mảnh, không ai giải cứu cho.
3Ka BOEIPA Pathen, hekah he ka saii mai tih, ka kut ah dumlai om mai ni.
3Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, nhược bằng tôi đã làm điều ấy, Và có sự gian ác nơi tay tôi;
4Kai aka thuung te a thae la ka thuung tih, lunglilungla la kai aka daengdaeh te ka rheth atah,
4Nếu tôi đã trả ác cho người ở hòa hảo cùng tôi, Và cướp lột kẻ hiếp tôi vô cớ,
5Ka hinglu he thunkha thunghling loh han hloem tih n'kae vaengah, ka hingnah he diklai ah taelh uh saeh lamtah, kai kah thangpomnah khaw, laipi khuila khueh saeh. Selah
5Thì đáng cho kẻ thù nghịch đuổi theo tôi kịp Giày đạp mạng sống tôi dưới đất, Và làm rạp vinh hiển tôi xuống bụi đất.
6Thoo lah BOEIPA kai taengah aka daengdaeh thinpom rhoek he, na thintoek neh pai thil lah. Haenghang lamtah, kai ham tiktamnah uen lah.
6Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nổi thạnh nộ mà chỗi dậy; Hãy dấy nghịch cùng sự giận hoảng của kẻ hiếp tôi; Khá tỉnh thức mà giúp đỡ tôi; Ngài đã truyền định sự đoán xét rồi.
7Te dongah namtu rhaengpuei loh, namah m'vael saeh lamtah, amih te hmuen sang lamkahngol thil.
7Hội các dân tộc sẽ vây phủ tứ phía Ngài; Còn Ngài vì chúng phải trở lên cao.
8BOEIPA loh pilnam rhoek ke laitloek pah saeh. Ka duengnah neh ka thincaknah vanbangla, ka lai han tloek lah BOEIPA.
8Đức Giê-hô-va đoán xét các dân. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy đoán xét tôi theo sự công bình tôi, Và theo sự thanh liêm ở nơi lòng tôi.
9Halang rhoek kah boethae tah paltham suidae aka dueng te na cak sak. Te dongah duengnah Pathen loh lungbuei neh kuel ni a loepdak.
9è, Đức Chúa Trời công bình! là Đấng dò xét lòng dạ loài người, Xin hãy khiến cùng tận sự gian ác kẻ dữ, Song hãy làm cho vững vàng người công bình.
10Lungbuei aka thuem kah khangkung Pathen tah kai kah photling ni.
10Đức Chúa Trời là cái khiên tôi, Ngài là Đấng cứu rỗi những kẻ có lòng ngay thẳng.
11Pathen he a dueng la lai a tloek neh khohnin takuem ah kosi aka sah Pathen ni.
11Đức Chúa Trời là quan án công bình, Thật là Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác.
12Yut pawt koinih a cunghang khaw a tah vetih, a lii khaw a phuk vetih a nuen ni.
12Nếu kẻ ác không hối cải, thì Đức Chúa Trời sẽ mài gươm: Ngài đã giương cung mà chực cho sẵn,
13Te dongah amah ham dueknah tubael a tawn tih thaltang aka alh te a saii.
13Cũng đã vì nó sắm sửa khí giới làm chết, Và làm những tên Ngài phừng lửa.
14Boethae te a yom tih thakthaenah la a vawn dongah a hong a hi ni a cun coeng ke.
14Kìa, kẻ dữ đang đẻ gian ác; Thật nó đã hoài thai sự khuấy khỏa, và sanh điều dối trá.
15Vaam te a vueh tih a too dae amah loh a saii vaam khuiah amah cungku.
15Nó đào một hố sâu, Nhưng lại té vào hố nó đã đào.
16A thakthaenah te a lu dongla mael vetih a kah kuthlahnah khaw a luki ah suntla ni.
16Sự khuấy khỏa nó đã làm sẽ đổ lại trên đầu nó. Và sự hung hăng nó giáng trên trán nó.
17BOEIPA kah a duengnah te ka uem vetih Khohni BOEIPA ming te ka tingtoeng ni.
17Tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va y theo sự công bình Ngài, Và ca tụng danh Đức Giê-hô-va là Đấng Chí cao.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.