Thi 78
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Hỡi dân sự ta, hãy lắng tai nghe luật pháp ta; Hãy nghiêng tai qua nghe lời của miệng ta.
1Наука Асафа. Слухай, народе мій, науки моєї! Прихилїть ухо ваше до слів уст моїх!
2Ta sẽ mở miệng ra nói thí dụ, Bày ra những câu đố của đời xưa,
2Вітворю уста до приповістї, роскажу загадки з перед віків давних;
3Mà chúng ta đã nghe biết, Và tổ phụ chúng ta đã thuật lại cho chúng ta.
3Про котрих ми чули і знаємо, і що їх розсказували нам батьки наші.
4Chúng ta sẽ chẳng giấu các điều ấy cùng con cháu họ, Bèn sẽ thuật lại cho dòng dõi hậu lai những sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, Quyền năng Ngài, và công việc lạ lùng mà Ngài đã làm.
4Не втаїмо перед синами їх, будучим родам, звіщаючи хвалу Господа, і його потугу, і чудеса, котрі він сотворив.
5Ngài đã lập chứng cớ nơi Gia-cốp, Định luật pháp trong Y-sơ-ra-ên, Truyền dặn tổ phụ chúng ta phải dạy nó lại cho con cháu mình;
5Він бо поставив сьвідченнє своє в Якові, і положив закон в Ізраїлї, заповідаючи батькам нашим, щоб синам своїм переказали.
6Hầu cho dòng dõi hậu lai, tức là con cái sẽ sanh, Được biết những điều đó, Rồi phiên chúng nó truyền lại cho con cháu mình;
6Щоб знав їх рід будучий, сини, що народитись мають, щоб і вони встали і синам своїм росказали,
7Hầu cho chúng nó để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, Không hề quên các công việc Ngài, Song gìn giữ các điều răn của Ngài,
7Щоб на Бога вповали, і про дїла Божі не забували, і заповідї його сповняли,
8Để chúng nó chẳng như tổ phụ mình, Là một dòng dõi cố chấp phản nghịch, Chẳng dọn lòng cho chánh đáng, Có tâm thần không trung tín cùng Đức Chúa Trời.
8І не були, як батьки їх, рід непокірний і ворохобливий, рід, що не статкував серцем, котрого дух не був вірний Богу.
9Con cháu Eùp-ra-im cầm binh khí và giương cung, Có xây lưng lại trong ngày chiến trận.
9Сини Ефремові, оружні сагайдачні, кинулись назад в день бою.
10Chúng nó không gìn giữ giao ước của Đức Chúa Trời, Cũng không chịu đi theo luật pháp Ngài,
10Не сповнили завіту Божого, і не схотїли ходити в законї його.
11Quên những việc làm của Ngài, Và các công tác lạ lùng mà Ngài đã tỏ cho chúng nó thấy.
11Забули дїла його і чудеса його, котрі явив їм.
12Tại trong xứ Ê-díp-tô, nơi đồng bằng Xô-an, Ngài làm những phép lạ trước mặt tổ phụ chúng nó.
12Він сотворив чудеса перед батьками їх, в землї Египецькій, на полї Зоан.
13Ngài rẽ biển ra, làm cho họ đi ngang qua, Khiến nước dựng lên như một đống.
13Він роздїлив море, і дав їм перейти, звелївши водам загатою, як ті вали, стояти.
14Ngài dẫn dắt họ, ban ngày bằng áng mây, Trọn ban đêm bằng ánh sáng lửa.
14І провадив їх в день під хмарою, і цїлу ніч при сьвітлї огня.
15Ngài bửa hòn đá ra trong đồng vắng, Ban cho họ uống nước nhiều như từ vực sâu ra.
15Пробивав скелю в пустинї, і щедро, як з глибинї, напував їх.
16Ngài cũng khiến suối từ hòn đá phun ra, Và làm cho nước chảy ra như sông.
16Велїв потокам із скелї плисти, і водї річками збігати.
17Dầu vậy, họ cứ phạm tội cùng Ngài, Phản nghịch cùng Đấng Chí cao trong đồng vắng.
17Вони ж не покидали проти його грішити, і Всевишнього в пустинї гнївити.
18Trong lòng họ thử Đức Chúa Trời, Mà cầu xin đồ ăn theo tình dục mình.
18І скушали Бога в серцях своїх, просячи поживи для похотї своєї.
19Họ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời, Mà rằng: Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?
19І говорили вони проти Бога, кажучи: Чи може Бог приготовити стіл у пустинї?
20Kìa, Ngài đã đập hòn đá, nước bèn phun ra, Dòng chảy tràn; Ngài há cũng có thể ban bánh sao? Ngài há sẽ sắm sửa thịt cho dân Ngài ư?
20Бач, скелю пробив він, і бризнула вода, і заклекотїли потоки; чи зможе він дати хлїба? Або чи дасть мяса народові свому?
21Vì vậy Đức Giê-hô-va có nghe bèn nổi giận; Có lửa cháy nghịch cùng Gia-cốp, Sự giận nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên;
21Тим то, як почув Господь, розгнївився і поломя запалало проти синів Якова, і гнїв піднявся проти Ізраїля.
22Bởi vì chúng nó không tin Đức Chúa Trời, Cũng chẳng nhờ cậy sự cứu rỗi của Ngài.
22Бо не вірили вони Богові, і не вповали на спасеннє його.
23Dầu vậy, Ngài khiến các từng mây trên cao, Và mở các cửa trời,
23А все ж таки повелїв він в горі хмарам, і відчинив двері небесні,
24Cho mưa ma-na xuống trên họ đặng ăn, Và ban cho lúa mì từ trên trời.
24І велївши, щоб падала манна на поживу їм, дав їм хлїба небесного.
25Người ta ăn bánh của kẻ mạnh dạn; Ngài gởi cho họ đồ ăn đầy đủ.
25Хлїбом сильних живився чоловік, страви післав їм подостатком.
26Ngài khiến gió đông thổi trên trời, Nhờ quyền năng mình Ngài dẫn gió nam.
26Післав від сходу вітра з неба, і силою своєю пригнав вітра з полудня.
27Ngài khiến mưa thịt trên chúng nó như bụi tro, Và chim có cánh cũng nhiều như cát biển;
27І велїв, щоб падало мясо між них, як порошня, і птаство піряте, як пісок морський,
28Ngài làm các vật đó sa xuống giữa trại quân, Khắp xung quanh nơi ở chúng nó.
28І велїв падати серед табору їх, кругом домівок їх.
29Như vậy chúng nó ăn, được no nê chán lán, Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó ước ao.
29І їли до сита дуже, і доставив їм, чого забаглося.
30Chúng nó chưa xây khỏi điều mình ước ao, Vật thực hãy còn trong miệng chúng nó,
30Та ще не одвернулись від забаганок своїх, ще була страва їх в губах їх,
31Bèn có cơn giận của Đức Chúa Trời nổi lên cùng chúng nó, Giết những kẻ béo hơn hết, Đánh hạ những người trai trẻ của Y-sơ-ra-ên.
31Як піднявся гнїв Бога на них, і став він губити зміж сильних їх, і повалив вибраних Ізраїлевих.
32Mặc dầu các sự ấy, chúng nó còn phạm tội, Không tin các công việc lạ lùng của Ngài.
32Та ще й тодї вони грішити не переставали, і в чудеса його не вірували.
33Vì cớ ấy Ngài làm cho các ngày chúng nó tan ra hư không, Dùng sự kinh khiếp làm tiêu các năm chúng nó.
33І дав їм коротати днї свої в марнотї, і лїта свої в страху.
34Khi Ngài đánh giết chúng nó, chúng nó bèn cầu hỏi Ngài, Trở lại tìm cầu Đức Chúa Trời cách sốt sắng.
34Коли вбивав їх, то шукали його і навертались, і благали Бога пильно.
35Chúng nó bèn nhớ lại rằng Đức Chúa Trời là hòn đá của mình, Đức Chúa Trời Chí cao là Đấng cứu chuộc mình.
35І спогадали вони, що Бог скеля їх, і Бог всевишнїй — спаситель їх.
36Nhưng chúng nó lấy miệng dua nịnh Ngài, Dùng lưỡi mình nói dối với Ngài.
36І притворялись перед ним устами своїми, і брехали язиком своїм.
37Vì lòng chúng nó chẳng khắn khít cùng Ngài, Chúng nó cũng không trung tín trong sự giao ước Ngài.
37Серце бо їх не статкувало перед ним, завіту його вірно вони не сповняли.
38Nhưng Ngài, vì lòng thương xót, tha tội ác cho, chẳng hủy diệt chúng nó: Thật, nhiều khi Ngài xây cơn giận Ngài khỏi, chẳng nổi giận đến cực k”.
38Але він змилосердився, він простив неправоту, і не запропастив їх; і часто одвертав гнїв свій, не дав попусту яростї своїй.
39Ngài nhớ lại chúng nó chẳng qua là xác thịt, Một hơi thở qua, rồi không trở lại.
39І спогадав, що вони тїло, вітер, що проходить, і не вертає.
40Biết mấy lần chúng nó phản nghịch cùng Ngài nơi đồng vắng, Và làm phiền Ngài trong chỗ vắng vẻ!
40Скілько то разів сердили вони його в пустинї, приводили в степах до смутку.
41Chúng nó lại thử Đức Chúa Trời, Trêu chọc Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên.
41І знов, скушаючи Бога, завдали жалю сьвятому Ізраїля.
42Chúng nó không nhớ lại tay của Ngài, Hoặc ngày Ngài giải cứu chúng nó khỏi kẻ hà hiếp;
42Не спогадали вони руки його, дня того, як вислобонив їх від гнобителя.
43Thể nào Ngài đặt các dấu lạ mình tại Ê-díp-tô, Và những phép k” mình trong đồng Xô-an;
43Як явив знаки свої в Египтї і чудеса свої на полях Зоан:
44Đổi ra huyết các sông Và các dòng nước chúng nó, đến đỗi không thế uống được.
44Він перемінив у кров ріки їх, так що не змогли пити води текучої.
45Ngài sai muỗi cắn nuốt họ, Và ếch làm hại chúng nó;
45Допустив на них собачі мухи, щоб кусали їх, і жаби, щоб губили їх.
46Cũng phó hoa lợi chúng nó cho châu chấu, Nộp bông trái công lao họ cho cào cào.
46Плоди їх віддав гусеницям, і працю їх саранї.
47Ngài phá vườn nho chúng nó bằng mưa đá, Hủy cây sung họ bằng tuyết giá;
47Виногради їх побив градом, а садовину-морву ожеледдю.
48Cũng phó trâu bò chúng nó cho mưa đá, Và nộp bầy chiên họ cho sấm sét.
48І віддав скотину їх градові, а отарі їх блискавкам.
49Ngài thả nghịch chúng nó cơn giận dữ Ngài, Sự thạnh nộ, sự nóng nả, và gian truân, Tức là một lũ sứ tai họa.
49Післав на них жар гнїву свого, лютість і ярість і горе, юрбу ангелів нещастя.
50Ngài mở lối cho cơn giận Ngài, Chẳng dong thứ linh hồn họ khỏi chết, Bèn phó mạng sống chúng nó cho dịch hạch;
50Дав попуст гнїву свому, не зберіг душі їх від смертї, і життя їх віддав чумі.
51Cũng đánh giết mọi con đầu lòng trong Ê-díp-tô, Tức là cường-tráng sanh đầu ở trong các trại Cham.
51І побив всїх первороднїв в Египтї, первенцїв сили у Хамових шатрах.
52Đoạn Ngài đem dân sự Ngài ra như con chiên. Dẫn dắt họ trong đồng vắng như một bầy chiên.
52І велїв народові свому, як вівцї, пускатись в дорогу, і вів їх, як стадо, в пустинї.
53Ngài dẫn chúng nó bình an vô sự, chúng nó chẳng sợ chi: Còn biển lấp lại những kẻ thù nghịch họ.
53І провадив їх безпечно, нїчого було їм боятись; а ворогів їх море покрило.
54Ngài đưa họ đến bờ cõi thánh Ngài, Tức đến núi mà tay hữu Ngài đã được.
54І привів їх до гряницї сьвятинї своєї, до гори тої, котру здобула правиця його.
55Ngài cũng đuổi các dân khỏi trước mặt chúng nó, Bắt thăm và chia xứ làm sản nghiệp cho họ, Khiến các chi phái Y-sơ-ra-ên ở trong trại của các dân ấy.
55І порозганяв народи перед ними, жеребом розпаював наслїддє, і поселив у шатрах їх поколїння Ізраїлеві.
56Dầu vậy, chúng nó thử và phản nghịch Đức Chúa Trời Chí cao, Không giữ các chứng cớ của Ngài;
56Але вони скушали і сердили Бога всевишнього, і сьвідчень його не додержували.
57Nhưng trở lòng, ở bất trung như các tổ phụ mình: Chúng nó sịa như cây cung sai lệch.
57Відступили і спроневірились, як батьки їх, вивернулись, як лук зрадливий.
58Nhân vì các nơi cao, chúng nó chọc giận Ngài, Giục Ngài phân bì tại vì những tượng chạm.
58Розсердили його горбищами своїми, образами своїми вразили його.
59Khi Đức Chúa Trời nghe điều ấy, bèn nổi giận, Gớm ghiếc Y-sơ-ra-ên quá đỗi;
59Бог почув і розлютився, і зовсїм відкинув Ізраїля.
60Đến nỗi bỏ đền tạm tại Si-lô, Tức là trại Ngài đã dựng giữa loài người;
60І покинув домівку Силомську, намет, що між людьми поставив його.
61Phó sức lực Ngài bị dẫn tù, Và nộp vinh hiển Ngài vào tay cừu địch.
61І віддав в неволю силу свою, і славу свою в руки напасників.
62Ngài cũng phó dân sự Ngài cho bị thanh gươm, Và nổi giận cùng cơ nghiệp mình.
62І віддав під меча нарід свій, і розлютився на наслїддє своє.
63Lửa thiêu nuốt những gã trai trẻ họ, Còn các nữ đồng trinh không có ai hát nghinh thú.
63Огонь пожер молодцїв їх, а дївчатам їх не сьпівали весїльних;
64Những thầy tế lễ họ bị gươm sa ngã, Song các người góa bụa không than khóc.
64Сьвященники їх полягли під мечем, а вдовицям їх нїколи було заплакати.
65Bấy giờ Chúa tỉnh thức như người khỏi giấc ngủ, Khác nào kẻ mạnh dạn reo la vì cớ rượu.
65Тодї пробудився Господь, мов би спячий, як лицарь, що вином покріпившись, гукає.
66Ngài hãm đánh những kẻ cừu địch lui lại, Làm cho chúng nó bị sỉ nhục đời đời.
66І побив ворогів своїх на стрімголов, завдав їм вічний сором.
67Vả lại, Ngài từ chối trại Giô-sép, Cũng chẳng chọn chi phái Eùp-ra-im;
67І погордував шатром Йосифа, і не вибрав поколїння Ефремового;
68Bèn chọn chi phái Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến.
68Тілько вибрав Юдин рід, гору Сион, що полюбив її.
69Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.
69І збудував він сьвятиню, як гора високу, як земля, що на віки утвердив її.
70Ngài cũng chọn Đa-vít là tôi tớ Ngài, Bắt người từ các chuồng chiên:
70І вибрав Давида, слугу свого, і взяв його від отар овечих;
71Ngài đem người khỏi bên các chiên cho bú, Đặng người chăn giữ Gia-cốp, là dân sự Ngài, Và Y-sơ-ra-ên, là cơ nghiệp Ngài.
71Із за кормлящих овець покликав його, пасти Якова, свій народ, і Ізраїля, наслїддє своє.
72Như vậy, người chăn giữ họ theo sự thanh liêm lòng người, Và lấy sự khôn khéo tay mình mà dẫn dắt họ.
72І він пас їх в чистотї серця свого, і розумними руками провадив їх.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.