Gia-cơ 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ, đạt cho mười hai chi phái ở tan lạc, chúc bình an!
1Яков, слуга Божий і Господа Ісуса Христа, дванайцяти родам, що розсїяні: Витайте.
2Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,
2Усяку радість майте, браттє моє, коли впадаєте в різні спокуси,
3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.
3знаючи, що доказ вашої віри робить терпіннє;
4Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.
4терпіннє ж нехай має звершене дїло, щоб ви були звершені і повні, нї в чому не маючи недостатку.
5Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
5Коли ж у кого з вас недостає премудрости, нехай просить у Бога, котрий дає всїм щедро та й не осоромлює, то й дасть ся йому.
6Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
6Нехай же просить вірою, нїчого не сумнячись; хто бо сумнить ся, той подобен филї морській, котру вітер жене та й розбиває.
7Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:
7Нехай бо не думає такий чоловік, що прийме що від Бога.
8ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.
8Чоловік двоєдушний не статечний у всїх дорогах своїх.
9Anh em nào ở địa vị thấp hèn hãy khoe mình về phần cao trọng mình,
9Нехай же хвалить ся брат смиренний висотою своєю,
10kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.
10а багатий смиреннєм своїм; бо він, як травяний цьвіт, перейде.
11Mặt trời mọc lên, nắng xẳng, cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tồi tàn: kẻ giàu cũng sẽ khô héo như vậy trong những việc mình làm.
11Зійшло бо сонце із спекою, і висушило траву, і цьвіт її опав, і краса лиця її зникла; так і багатий в дорогах своїх зівяне.
12Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.
12Блажен чоловік, що витерпить спокусу; тим що, будучи вірний, прийме вінець життя, що обіцяв Бог тим, що люблять Його.
13Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Aáy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
13Нїхто ж у спокусї нехай не каже: Що Бог мене спокушує; Бог бо не спокушуєть ся лихим, і не спокушує сам нїкого.
14Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình.
14Кожен же спокушуєть ся, надившись і лестившись похоттю своєю.
15Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.
15Потім похоть, зачавши, роджає гріх, гріх же зроблений роджає смерть.
16Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình:
16Не заблуджуйтесь, браттє моє любе.
17mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.
17Усяке добре даяннє і всякий звершений дар з висоти сходить, од Отця сьвітла, в котрого нема переміни анї тїни зміни.
18Aáy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.
18Схотїв бо, то й породив нас словом правди, щоб бути нам якимсь почином творива Його.
19Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;
19Тим же, браттє моє любе, нехай буде всякий чоловік скорий на слуханнє, і нескорий на слова, нескорий на гнїв.
20vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
20Гнїв бо чоловіка правди Божої не чинить.
21Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em.
21Задля того відкинувши всяку погань і останок зла, прийміть у лагідности посаджене слово, що може спасти душі ваші.
22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.
22Будьте ж чинителями слова, а не тілько слухателями, обманюючи себе самих.
23Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương,
23Бо, коли хто слухатель слова, а не чинитель, той подобен чоловікові, що дивить ся на природне лице своє в зеркалї.
24thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.
24Подививсь бо на себе, та й одійшов, та зараз і забув, який він був.
25Nhưng kẻ nào xét kĩ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.
25Хто ж дивить ся в звершений закон свободи, та й пробуває в ньому, той не слухатель забуваючий, а чинитель дїла; такий буде щасливий у дїланню своїм.
26Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.
26Коли хто думає, що він вірен між вами, не уздаючи язика свого, а обманюючи серце своє, у того марна віра.
27Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.
27Ото бо віра чиста і неопоганена перед Богом і Отцем, щоб одвідувати сиріт і вдовиць у горю їх, і держати себе неопоганеним од сьвіта.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.