Gia-cơ
Chapter 2

Gia-cơ

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Hỡi anh em, anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa vinh hiển chúng ta, thì chớ có tây vị người nào.
1Браттє моє, не на лиця вважаючи, майте віру Господа нашого Ісуса Христа прославленого.
2Giả sử có người đeo nhẫn vàng, mặc áo đẹp, vào nơi hội anh em, lại có người nghèo, quần áo rách rưới, cũng vào nữa;
2Коли бо ввійшов у громаду вашу чоловік з золотим перснем, в одежі осяйній, ввійшов же й вбогий в мізерній одежі,
3nếu anh em ngó kẻ mặc áo đẹp, mà nói rằng: Mời ngồi đây, là chỗ tử tế; lại nói với người nghèo rằng: Hãy đứng đó, hoặc ngồi dưới bệ chân ta, -
3і ви споглянете на того, що носить осяйну одежу, і скажете йому: Ти сїдай отут гарно, а вбогому скажете: Ти стань отам, або сїдай отут на підніжку моїм,
4thế có phải anh em tự mình phân biệt ra và lấy ý xấu mà xét đoán không?
4то чи не пересуджуєте між собою і не станетесь суддями з ледачими думками?
5Hỡi anh em rất yêu dấu, hãy nghe nầy: Đức Chúa Trời há chẳng lựa kẻ nghèo theo đời nầy đặng làm cho trở nên giàu trong đức tin, và kế tự nước Ngài đã hứa cho kẻ kính mến Ngài hay sao?
5Слухайте, браттє моє любе: хиба не вбогих сьвіту сього вибрав Бог на багатих вірою і наслїдників царства, котре обіцяв тим, хто любить Його?
6Mà anh em lại khinh dể kẻ nghèo! Há chẳng phải kẻ giàu đã hà hiếp anh em, kéo anh em đến trước tòa án sao?
6Ви ж зневажили вбогого. Хиба не багаті підневолюють вас, і не вони тягнуть вас на судища?
7Há chẳng phải họ phạm thượng đến danh tốt đã lấy đặt cho anh em sao?
7Хиба не вони зневажають добре імя, яким вас названо?
8Thật vậy, nếu anh em vâng giữ cho trọn vẹn luật pháp tôn trọng, theo như Kinh Thánh rằng: Hãy yêu người lân cận như mình, thì anh em ăn ở tốt lắm.
8Коли ж оце звершуєте закон царський по писанню: „Люби ближнього свого, як себе самого‟, добре чините;
9Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép.
9коли ж на лиця дивитесь, то гріх робите, докорені законом, як переступники.
10Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy.
10Кожний бо, хто увесь закон заховає, та згрішить в одному, станеть ся у всьому виноватий.
11Vả, Đấng đã phán rằng: Chớ phạm tội tà dâm, cũng có phán rằng: Chớ giết người. Vậy, nếu ngươi không phạm tội tà dâm, nhưng phạm tội giết người, thì ngươi là kẻ phạm luật pháp.
11Хто бо сказав: „Не чини перелюбу,‟ Той сказав і: „Не вбивай.‟ Коли ж не зробиш перелюбу, а вбєш, став ся єси переступником закону.
12Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình.
12Так говоріте і так творіте, яко такі, що законом свободним судити метесь.
13Sự đoán xét không thương xót kẻ chẳng làm sự thương xót; nhưng sự thương xót thắng sự đoán xét.
13Суд бо без милосердя тому, хто не зробив милости, і вихваляєть ся милосердє суду (понад суд).
14Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng?
14Яка користь, браттє моє, коли хто каже, що віру має, та дїл не має? чи може віра спасти його?
15Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày,
15Коли ж брат або сестра нагі будуть і жадні щоденної страви,
16mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng?
16а з вас хто скаже їм: Ідїть з миром, грійтесь і годуйтесь, а не дасть їм потрібного для тїла; яка (з того) користь?
17Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết.
17Так само й віра, коли дїл не має, мертва сама по собі.
18Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta.
18Ну, скаже хто: Ти віру маєш, а я дїла маю. Покажи менї віру твою з дїл твоїх, а я тобі докажу з дїл моїх віру мою.
19Ngươi tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải; ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ.
19Ти віруєш, що Бог один; добре робиш: і біси вірують, та й тремтять.
20Nhưng, hỡi người vô tri kia, ngươi muốn biết chắc rằng đức tin không có việc làm là vô ích chăng?
20Чи хочеш же зрозуміти, чоловіче марний, що віра без дїл мертва?
21Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, khi dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao?
21Авраам, отець наш, хиба не з дїл оправдив ся, піднявши Ісаака, сина свого, на жертівник?
22Thế thì, ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, và nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn.
22Чи бачиш, що віра допомагала дїлам його, і дїлами звершилась віра?
23Vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Aùp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người; và người được gọi là bạn Đức Chúa Trời.
23І сповнилось писаннє, що глаголе: „Увірував же Авраам Богові й полїчено йому (те) за праведність, і другом Божим наречено його.‟
24Nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.
24Чи бачите ж оце, що з дїл оправдуєть ся чоловік, а не з однієї віри?
25Đồng một thể ấy, kỵ nữ Ra-háp tiếp rước các sứ giả và khiến họ noi đường khác mà đi, người há chẳng phải cậy việc làm mà được xưng công bình sao?
25Так само і Раава блудниця хиба не з дїл оправдилась, прийнявши посланцїв і вивівши їх иншою дорогою?
26Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.
26Яко бо тїло без духа мертве, так і віра без дїл мертва.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.