Gia-cơ
Chapter 2

Gia-cơ

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hỡi anh em, anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa vinh hiển chúng ta, thì chớ có tây vị người nào.
1E NA hoahanau o'u, i ko oukou manaoio ana ia Iesu Kristo i ko kakou Haku nani, mai manao aku ma ko ke kanaka helehelena.
2Giả sử có người đeo nhẫn vàng, mặc áo đẹp, vào nơi hội anh em, lại có người nghèo, quần áo rách rưới, cũng vào nữa;
2No ka mea, ina e komo kekahi kanaka iloko o ko oukou halehalawai me ke komolima gula, a nani hoi kona kapa, a komo mai no hoi kekahi mea ilihune, inoino hoi kona kapa;
3nếu anh em ngó kẻ mặc áo đẹp, mà nói rằng: Mời ngồi đây, là chỗ tử tế; lại nói với người nghèo rằng: Hãy đứng đó, hoặc ngồi dưới bệ chân ta, -
3A manao aku oukou ma ka mea i kahiko i ke kapa nani, a e olelo ae oukou, Maanei oe e noho ai ma kahi maikai; a e olelo aku hoi i ka mea ilihune, E ku oe malaila, a e noho paha oe maanei ma kuu paepae wawae;
4thế có phải anh em tự mình phân biệt ra và lấy ý xấu mà xét đoán không?
4Aole anei oukou i lilo i poe paewaewa aku, e manao hewa wale aku ana?
5Hỡi anh em rất yêu dấu, hãy nghe nầy: Đức Chúa Trời há chẳng lựa kẻ nghèo theo đời nầy đặng làm cho trở nên giàu trong đức tin, và kế tự nước Ngài đã hứa cho kẻ kính mến Ngài hay sao?
5E hoolohe oukou, e na hoahanau aloha o'u, aole anei ke Akua i wae ae i ka poe ilihune o ke ao nei e lako i ka manaoio, a e lilo i poe hooilina o ke aupuni ana i olelo mai ai i ka poe e aloha aku ana ia ia?
6Mà anh em lại khinh dể kẻ nghèo! Há chẳng phải kẻ giàu đã hà hiếp anh em, kéo anh em đến trước tòa án sao?
6Aka, ua hoowahawaha oukou i ka poe ilihune. Aole anei i hooluhi mai ka poe waiwai ia oukou, a i alakai hoi ia oukou ma kahi e hookolokolo ai?
7Há chẳng phải họ phạm thượng đến danh tốt đã lấy đặt cho anh em sao?
7Aole anei lakou i hoino i kela inoa maikai i kapaia aku ai oukou?
8Thật vậy, nếu anh em vâng giữ cho trọn vẹn luật pháp tôn trọng, theo như Kinh Thánh rằng: Hãy yêu người lân cận như mình, thì anh em ăn ở tốt lắm.
8Ina oukou e malama i ke kanawai hemolele me ia ma ka palapala, E aloha aku oe i kou hoalauna e like me oe iho, ina ua pono ka oukou hana ana;
9Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép.
9Aka, ina e manao oukou ma ko ka helehelena, ua hana hewa oukou, a ua hoohewaia oukou e ke kanawai he poe lawehala.
10Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy.
10O ka mea malama i ke kanawai a pau, a i haule nae ia ma ka mea hookahi, ua hewa no ia i ke kanawai a pau.
11Vả, Đấng đã phán rằng: Chớ phạm tội tà dâm, cũng có phán rằng: Chớ giết người. Vậy, nếu ngươi không phạm tội tà dâm, nhưng phạm tội giết người, thì ngươi là kẻ phạm luật pháp.
11No ka mea, o ka mea nana i kauoha mai, Mai moe kolohe oe, kauoha mai la no hoi, Mai pepehi kanaka oe. Ano, ina aole oe i moe kolohe aku, aka, ua pepehi i ke kanaka, ua lilo oe i mea haihai i ke kanawai.
12Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình.
12E olelo aku oukou, a e hana aku hoi, e like me ka poe e hookolokoloia ana ma ke kanawai o ke ola.
13Sự đoán xét không thương xót kẻ chẳng làm sự thương xót; nhưng sự thương xót thắng sự đoán xét.
13O ka mea i hana me ke aloha ole aku, e hoahewaia auanei oia me ke aloha ole ia mai; aole makau ka lokomaikai i ka hoohewaia.
14Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng?
14E na hoahanau o'u, heaha ka waiwai, ke olelo kekahi, he manaoio kona, aole hoi ana hana? E hiki anei i ka manaoio ke hoola ia ia?
15Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày,
15Ina he kapa ole ko ke kaikaina paha, ke kaikuwahine paha, a i nele hoi i ka ai i kela la i keia la;
16mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng?
16A i i aku kekahi o oukou ia laua, O hele olua me ka pomaikai, a e hoopumahanaia, a e maona no hoi; aole nae oukou e haawi io aku ia laua i ka mea e pono ai ke kino; heaha la ka waiwai?
17Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết.
17Pela no hoi ka manaoio, ina oia wale no aole ana hana, ua make ia.
18Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta.
18A e i mai kekahi, O ka manaoio kou, a na'u hoi ka hana ana; e hoike mai oe ia'u i kou manaoio me kau hana ole, a ma ka'u hana ana e hoike aku ai au ia oe i kuu manaoio.
19Ngươi tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải; ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ.
19Ke manaoio nei oe, aia hookahi Akua; ua pono oe: pela no ka poe daimonio i manaoio ai, me ka haalulu hoi.
20Nhưng, hỡi người vô tri kia, ngươi muốn biết chắc rằng đức tin không có việc làm là vô ích chăng?
20E ke kanaka lapuwale, ke makemake nei anei oe e ike aku, ua make ka manaoio ke ole kana haua ana?
21Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, khi dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao?
21Aole anei i hoaponoia mai o Aberahama ko kakou kupuna ma ka hana ana, i kona wa i mohai aku ai i kana keiki ia Isaaka maluna o ke kuahu?
22Thế thì, ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, và nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn.
22Ke ike nei oe, i hooikaika pu ka manaoio me kana hana ana, a ma ka hana ana i pouo ai ka manaoio.
23Vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Aùp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người; và người được gọi là bạn Đức Chúa Trời.
23A ua hookoia hoi ka palapala, i i mai ai, Ua manaoio Aberahama i ke Akua, a ua hooiliia'e ia i pono nona; a ua kapaia iho la oia he hoaaloha no ke Akua.
24Nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.
24Ke ike ae nei oukou, ua hoaponoia mai no ke kanaka ma na hana, aole ma ka manaoio wale no.
25Đồng một thể ấy, kỵ nữ Ra-háp tiếp rước các sứ giả và khiến họ noi đường khác mà đi, người há chẳng phải cậy việc làm mà được xưng công bình sao?
25Aole anei i hoaponoia o Rahaba ka wahine hookamakama ma ka hana ana i ka wa ana i hookipa ai i na elele, a hoouna aku la ma ke ala e?
26Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.
26Oiaio no, o ke kino uhane ole, ua make no ia, pela hoi ka manaoio hana ole, ua make no ia.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.