II Cô
Chapter 1
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Phao-lô, theo ý muốn Đức Chúa Trời, làm sứ đồ Đức Chúa Jêsus Christ, cùng người anh em chúng ta là Ti-mô-thê, gởi cho Hội thánh của Đức Chúa Trời ở thành Cô-rinh-tô, và cho hết thảy thánh đồ ở khắp xứ A-chai:
1O PAULO he lunaolelo na Iesu Kristo, no ka makemake o ke Akua, o Timoteo hoi ka hoahanau, na ka ekalesia o ke Akua ma Korineto, me ka poe hoano a pau e noho ana ma Akaia a puni:
2nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ!
2E alohaia mai oukou, e maluhia hoi i ke Akua i ko kakou Makua, a i ka Haku ia Iesu Kristo.
3Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi.
3E hoomaikaiia ke Akua, ka Makua o ko kakou Haku o Iesu Kristo, o ka Makua nona ke aloha, a o ke Akua hoi nona ka oluolu a pau;
4Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp!
4Nana makou e hooluolu mai i na pilikia a pau o makou, i hiki ia makou ke hooluolu aku i ka poe iloko o na pilikia a pau, ma ka oluolu o makou i hooluoluia mai ai e ke Akua.
5Vì như những sự đau đớn của Đấng Christ chan chứa trong chúng tôi thể nào, thì sự yên ủi của chúng tôi bởi Đấng Christ mà chứa chan cũng thể ấy.
5No ka mea, me na hana eha ia mai o makou he nui no Kristo, pela hoi ko makou hooluoluia mai he nui ma o Kristo la.
6Như vậy, hoặc chúng tôi gặp hoạn nạn, ấy là cho anh em được yên ủi và được rỗi; hoặc chúng tôi được yên ủi, ấy là cho anh được em yên ủi, mà sự yên ủi đó được hiện ra bởi anh em chịu cách nhịn nhục những sự đau đớn mà chúng tôi cùng chịu.
6No ka mea, a i hoopilikiaia mai makou, he mea ia no oukou e oluolu ai a e ola hoi; a i hooluoluia mai makou, he mea ia no oukou e oluolu ai a e ola hoi; ka mea i hooikaikaia iloko o oukou ma ka hoomanawanui ana i na eha a makou i hana eha ia mai ai.
7Sự trông cậy của chúng tôi về anh em thật vững vàng; vì biết rằng bởi anh em có phần trong sự đau đớn, thì cũng có phần trong sự yên ủi vậy.
7Ua kupaa hoi ko makou manaolana no oukou; ua ike hoi, e like me oukou i hui pu ia me makou i na hana eha ia mai, peia no hoi i ka hooluoluia mai.
8Vả, hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng biết sự khốn nạn đã xảy đến cho chúng tôi trong xứ A-si, và chúng tôi đã bị đè nén quá chừng, quá sức mình, đến nỗi mất lòng trông cậy giữ sự sống.
8Nolaila, e na hoahanau, aole o makou makemake e ike ole oukou i ko makou pilikia i hiki ae io makou la i Asia; no ka mea, ua hoopilikia loa ia makou, aole ikaika iki, aole makou i manao e ola.
9Chúng tôi lại hình như đã nhận án xử tử, hầu cho chúng tôi không cậy mình, nhưng cậy Đức Chúa Trời là Đấng khiến kẻ chết sống lại.
9Aka, iloko o makou iho ka hoohewaia e make, i paulele ole ai makou ia makou iho, i ke Akua no nana e hoala ka poe make:
10Aáy chính Ngài đã cứu chúng tôi khỏi sự chết lớn dường ấy, và sẽ cứu chúng tôi; phải, chúng tôi còn mong Ngài sẽ cứu chúng tôi nữa.
10Oia ka i hoopakele ae ia makou i ka make ino loa; a ke hoopakele nei no ia; a ke manao nei makou ia ia, e hoopakele hou ana oia.
11Chính anh em lấy lời cầu nguyện mà giúp đỡ chúng tôi, hầu cho chúng tôi nhờ nhiều người cầu nguyện mà được ơn, thì cũng nên dịp cho nhiều người vì cớ chúng tôi mà tạ ơn nữa.
11O oukou hoi e kokua pu mai ana ia makou ma ka pule, i haawiia'ku ke aloha no makou e na kanaka he nui, no ka lokomaikai i loaa mai ia makou ma na kanaka he nui.
12Còn như cái điều làm vẻ vang cho chúng tôi, ấy là lương tâm chúng tôi làm chứng rằng mình lấy sự thánh sạch và thật thà đến bởi Đức Chúa Trời mà ăn ở trong thế gian nầy, nhất là đối với anh em, không cậy sự khôn ngoan theo tánh xác thịt, nhưng cậy ơn của Đức Chúa Trời.
12No ka mea, o ko makou kaena keia, o ka hoike ana no o ko makou naau; ma ka manao hookahi a me ka naau kupono i ka ke Akua, aole ma ko ke kino akamai, aka, ma ka lokomaikai o ke Akua, ko makou noho ana i keia ao; a pela io hoi iwaena o oukou.
13Vì chúng tôi chẳng viết cho anh em sự gì khác hơn những điều anh em đọc trong thơ chúng tôi và chính mình anh em nhận biết; và tôi lại mong anh em nhận biết cho đến cuối cùng,
13No ka mea, o na mea a oukou i heluhelu ai me ka hooiaio mai, a ke manao nei au e hooiaio ana oukou a hiki i ka hope, oia wale no ka makou i palapala aku ai ia oukou.
14cũng như anh em đã nhận biết ít nhiều rồi: ấy là chúng tôi làm vẻ vang cho anh em, khác nào anh em cũng làm vẻ vang cho chúng tôi trong ngày Đức Chúa Jêsus chúng ta.
14No ka mea, ua hooiaio mai no oukou ia makou ma ka hapa, o makou ka oukou e kaena ai; a pela hoi auanei oukou ka makou i ka la o ka Haku o Iesu.
15Bởi sự trông cậy đó, trước đây tôi có định đi thăm anh em, hầu giúp cho anh em được ơn bội phần.
15Me keia manao maopopo, ua ake no au e hele aku io oukou la mamua, i loaa hoi ia oukou ka haawina hou;
16Tôi định trải qua nơi anh em rồi đi xứ Ma-xê-đoan, lại từ Ma-xê-đoan trở về nơi anh em, tại nơi đó, anh em cho đưa tôi qua xứ Giu-đê.
16A e hele aku ma o oukou la i Makedonia, a e hoi hou mai io oukou la mai Makedonia mai, a e alakaiia'ku e oukou i Iudea.
17Tôi định ý như vậy, nào có phải bởi tôi nhẹ dạ sao? Hãy là tôi theo xác thịt mà quyết định, đến nỗi nơi tôi khi thì phải khi thì chăng sao?
17A manao iho la au i keia, he lauwili anei ka'u? a o ka'u mau mea e manao nei, ma ko ke kino anei ko'u manao ana, i ae wale aku au, ae, a hoole wale aku, aole?
18Thật như Đức Chúa Trời là thành tín, lời chúng tôi nói với anh em cũng chẳng phải khi thì phải khi thì chăng vậy.
18Ma ka oiaio a ke Akua, o ka makou olelo ia oukou, aole ia he hooia a me ka hoole.
19Con Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jêsus Christ, mà chúng tôi, tức là tôi với Sin-vanh và Ti-mô-thê, đã giảng ra trong anh em, chẳng phải là vừa phải vừa chăng đâu; nhưng trong Ngài chỉ có phải mà thôi.
19No ka mea o ke Keiki a ke Akua, o Iesu Kristo, ka mea a makou me Silevano a me Timoteo i hai aku ai ia oukou, aole ia he hooia a me ka hoole; aka, iloko ona, he hooia wale no.
20Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “A-men,” làm sáng danh Đức Chúa Trời.
20No ka mea, o na olelo a ke Akua a pau, he hooia iloko ona, a he Amene iloko ona, i hoonaniia'i ke Akua e makou.
21Vả, Đấng làm cho bền vững chúng tôi với anh em trong Đấng Christ, và đã xức dầu cho chúng tôi, ấy là Đức Chúa Trời;
21O ka mea nana makou i hookupaa'i me oukou iloko o Kristo, nana hoi makou i poni ai, o ke Akua ia;
22Ngài cũng lấy ấn mình mà đóng cho chúng tôi và ban của tin Đức Thánh Linh trong lòng chúng tôi.
22Oia hoi ka i hoailona mai ia makou, a i haawi mai hoi i ka makana mua o ka Uhane iloko o ko makou naau.
23Tôi cầu Đức Chúa Trời lấy linh hồn tôi làm chứng rằng, ấy là tại nể anh em mà tôi chưa đi đến thành Cô-rinh-tô;
23Ke kahea aku nei au i ke Akua i mea hoike no kuu uhane, o ka minamina ia oukou ko'u mea i hiki ole aku ai mamua i Korineto.
24chớ không phải chúng tôi muốn cai trị đức tin anh em, nhưng chúng tôi muốn giúp thêm sự vui của anh em, vì anh em đứng vững vàng trong đức tin.
24Aole no makou e hookoikoi maluna o ko oukou manaoio; aka, ke kokua nei makou i ko oukou olioli: no ka mea, ke ku nei oukou ma ka manaoio.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.