II Cô 5
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, chúng ta biết rằng nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra.
1NO ka mea, ua ike makou, ina i wawahiia ko makou hale kino lepo, o ka halelewa, e loaa auanei ia makou ka hale na ke Akua, he hale hana ole ia e na lima, ua mau loa iloko o ka lani.
2Vì chúng ta thật than thở trong nhà tạm nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời,
2No ka mea, ke kenakena nei no makou iloko o keia, me ka makemake nui e hookomoia'ku iloko o ko makou hale i ka lani.
3miễn là gặp thấy chúng ta đang mặc áo, không trần truồng.
3Ina paha i hookomoia makou, aole makou e ikeia mai he hune.
4Bởi chưng chúng ta ở trong nhà tạm nầy, than thở dưới gánh nặng, vì chúng ta không cầu cho bị lột trần, song cầu cho được mặc lại, để sự gì hay chết trong chúng ta bị sự sống nuốt đi.
4A ke kenakena nei makou me ke kaumaha e noho ana iloko o ua halelewa nei: aole na ka makemake e hele mawaho, aka, e hookomoia maloko, i aleia ka make e ke ola.
5Đấng đã gây dựng chúng ta cho được sự ấy, ấy là Đức Chúa Trời, đã ban của tin của Đức Thánh Linh cho chúng ta.
5O ka mea nana makou e hooikaika mai i keia mea, o ke Akua ia, oia hoi ka i haawi mai ia makou i ka makana mua o ka Uhane.
6Vậy, chúng ta hằng đầy lòng tin cậy, và biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy thì cách xa Chúa
6No ia hoi, he ikaika mau ko makou, no ka ike iho, i ko makou noho ana ma ke kino, ua mamao makou i ka Haku.
7vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy.
7No ka mea, ke hele nei makou ma ka manaoio, aole ma ka ike maka ana.
8Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn.
8Ua ikaika no makou, a ke ake nei no hoi o noho mamao makou i ke kino, a e noho pu me ka Haku.
9Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa.
9Nolaila, ke hooikaika nei makou i oluolu mai ai oia ia makou, ke noho pu makou a ke noho mamao hoi.
10Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.
10No ka mea, e hoikeia auanei kakou a pau imua o ka noho hookolokolo o Kristo; i loaa i kela mea i keia mea na mea iloko o ke kino, e like me ka mea ana i hana'i, ina paha he maikai, ina paha he hewa.
11Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin; Đức Chúa Trời biết chúng tôi, và tôi mong anh em cũng biết chúng tôi trong lương tâm mình.
11No ia hoi, i ko makou ike ana i ka mea makau a ka Haku, ke hoohuli aku nei makou i na kanaka; a ua ike pono ia mai makou e ke Akua; a ke manao nei no hoi au, ua ike pono ia mai makou e ko oukou lunamanao.
12Chúng tôi chẳng lại phô mình cùng anh em, nhưng muốn trao cho anh em cái dịp khoe mình về chúng tôi, đặng anh em có thể đối đáp lại cùng những kẻ chỉ khoe mình về bề ngoài, mà không về sự trong lòng.
12Aole no makou e hoomaikai hou aku ia makou iho ia oukou; aka, ke haawi aku nei makou i ka mea e kaena ai oukou no makou iho, i loaa ia oukou ka mea e hai aku ai i ka poe kaena i ko waho, aole nae i ko ka naau.
13Vả, hoặc chúng tôi cuồng, ấy là vì Đức Chúa Trời; hoặc chúng tôi dè giữ, ấy là vì anh em.
13Ina ua oi aku ko makou manao ikaika, no ke Akua no ia; ina ua haahaa iho ko makou manao, no oukou hoi ia.
14Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết,
14Ke koi ikaika mai nei ke aloha o Kristo ia makou; no ka mea, ua akaka i ko makou manao, ina i make kekahi no na mea a pau, ina ua make na mea a pau.
15lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.
15A make no ia no na mea a pau, i ole e noho hou ai ka poe e ola ana no lakou iho, aka, no ka mea i make a i ala hou mai no lakou.
16Bởi đó, từ rày về sau, chúng tôi không theo xác thịt mà nhận biết ai nữa; và, dẫu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, song cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu.
16Nolaila, aole makou e ike hou aku i kekahi ma ke kino: ina paha na ike makou ia Kristo ma ke kino, aole makou e ike hou aku ia ia malaila.
17Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.
17No ia mea, ina iloko o Kristo kekahi kanaka, he mea hou oia; ua hala aku la na mea kahiko; aia hoi, ua ano hou ae la na mea a pau.
18Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta.
18Na ke Akua mai no na mea a pau, nana makou i hoolaulea mai nona iho ma o Iesu Kristo la, a haawi mai hoi na makou i ka oihana e hoolaulea aku ai.
19Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi.
19Peneia, ke hoolaulea nei ke Akua i ko ke ao nei nona iho ma o Kristo la, aole no e hoopili ana i ko lakou hewa ia lakou; a ua waiho mai la hoi ia makou i ka olelo e hoolaulea aku ai.
20Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.
20No ia hoi, he mau elele makou no Kristo, ua like hoi ke Akua me ka mea nonoi aku ma o makou nei, ke noi aku nei makou no Kristo, i hoolauleaia mai oukou i ke Akua.
21Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
21No ka mea, ua hoolilo mai la oia ia ia, ka mea hala ole, i mohaihala no kakou, i lilo ai kakou i poe pono i ke Akua ma ona la.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.