II Cô
Chapter 5
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vả, chúng ta biết rằng nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra.
1Long hoi sak ih hae kahni im hae anghmaa cadoeh, van ah ban hoi sak ai ih dungzan ah kacak, Sithaw ih im a tawnh o, tiah a panoek o.
2Vì chúng ta thật than thở trong nhà tạm nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời,
2Hae long nuiah a oh o naah, van ih im ah oh han a koeh o parai pongah, pacip paaahaih hoiah kho a sak o:
3miễn là gặp thấy chúng ta đang mặc áo, không trần truồng.
3van ah oh hanah laihaw to angkhuk o boeh nahaeloe, bangkrai ah a om o mak ai.
4Bởi chưng chúng ta ở trong nhà tạm nầy, than thở dưới gánh nặng, vì chúng ta không cầu cho bị lột trần, song cầu cho được mặc lại, để sự gì hay chết trong chúng ta bị sự sống nuốt đi.
4Hae kahni im thungah kaom aicae loe hmuen kazit a phawh o pongah, pacip paaahaih hoiah kho a sak o: hae im hae caehtaak han a koeh o pongah na ai, kadueh thaih hmuen to hinghaih hoiah pazawk han a koeh o pongah ni hae tiah kho a sak o.
5Đấng đã gây dựng chúng ta cho được sự ấy, ấy là Đức Chúa Trời, đã ban của tin của Đức Thánh Linh cho chúng ta.
5To tiah oh thai hanah aicae khaeah toksahkung loe Sithaw ni, Anih mah ni kacak Muithla doeh aicae hanah paek.
6Vậy, chúng ta hằng đầy lòng tin cậy, và biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy thì cách xa Chúa
6To pongah hae im takpum ah a oh o nathung, aicae loe Angraeng hoiah angthla o, tiah a panoek o pongah oephaih hoiah kho a sak o poe:
7vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy.
7(aicae loe hnukhaih hoiah a caeh o ai, tanghaih hoiah ni a caeh o:)
8Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn.
8hae takpum hae a caeh o taak moe, Angraeng hoi nawnto oh han a koeh o pongah poekhaih tha a cak o.
9Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa.
9Aicae loe hae im ah a oh o maw, om ai maw, tok a sak o naah, Anih mah talawk koi kami ah a oh o thai hanah ni tok a sak o.
10Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.
10Kami boih a takpum hoiah sak ih baktih toengah, kasae kahoih hnuk hanah, aicae loe Kri lokcaekhaih angraeng tangkhang hmaa ah angdoe o boih tih.
11Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin; Đức Chúa Trời biết chúng tôi, và tôi mong anh em cũng biết chúng tôi trong lương tâm mình.
11Zit kathok Angraeng kawng to ka panoek o pongah, kami boih Angraeng khaeah amlaem o hanah ka pacae o, tiah Sithaw mah kahoihah ang panoek; nangcae mah doeh nang panoek o tih, tiah oephaih ka tawnh.
12Chúng tôi chẳng lại phô mình cùng anh em, nhưng muốn trao cho anh em cái dịp khoe mình về chúng tôi, đặng anh em có thể đối đáp lại cùng những kẻ chỉ khoe mình về bề ngoài, mà không về sự trong lòng.
12Nangcae khaeah kaimacae hoi kaimacae amkoeh let hanah ka poek o ai. Toe palungthin khen ai ah, tasa ah amoek kaminawk to, kaicae zuengah nam oek o thuih han ih ni atue kahoih kang paek o.
13Vả, hoặc chúng tôi cuồng, ấy là vì Đức Chúa Trời; hoặc chúng tôi dè giữ, ấy là vì anh em.
13Kaicae kam thu o nahaeloe, Sithaw han ni kam thu o: palung ka ha o nahaeloe, nangcae han ni palung ka ha o.
14Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết,
14Kami boih hanah kami maeto dueh nahaeloe, kaminawk loe duek o boih, tiah a panoek o pongah, Kri amlunghaih mah kaicae ang pacae khruek:
15lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.
15kahing kaminawk loe angmacae han hing ai ah, nihcae han kadueh moe, angthawk let kami han a hing o thai hanah, Anih loe kami boih hanah duek.
16Bởi đó, từ rày về sau, chúng tôi không theo xác thịt mà nhận biết ai nữa; và, dẫu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, song cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu.
16To pongah vaihi hoi kamtong mi kawbaktih doeh taksa khet hoi lokcaek han ih ka panoek o ai, canghniah loe Kri to taksa ah ka panoek o, toe vaihi loe to tiah panoekhaih ka tawn o ai boeh.
17Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.
17To pongah mi kawbaktih doeh Kri ah kaom kami loe kangtha ah sak ih kami ah oh: kangquem hmuennawk loe laemh boih boeh; khenah, hmuennawk loe angtha o boih boeh.
18Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta.
18Hmuennawk boih loe Sithaw ih ni, Anih loe Jesu Kri rang hoiah aicae hoi angmah salakah angdaeh lethaih to sak moe, angdaeh let toksakhaih to aicae khaeah ang paek;
19Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi.
19Sithaw loe Kri ah oh moe, long hoi angdaehhaih to sak, nihcae mah sak o ih zaehaih baktih toengah nihcae han zaehaih net ai; angdaehhaih tamthanglok to aicae hanah paek boeh.
20Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.
20To tiah oh pongah aicae loe Kri han laicaeh ah a oh o: kaicae rang hoiah Sithaw mah pacae baktih toengah, Sithaw hoi angdaehhaih na sak o hanah Kri zuengah kang pacae o.
21Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
21Anih rang hoiah Sithaw toenghaih a hnuk o thai hanah, Sithaw mah zaehaih panoek ai Anih to aicae hanah kami zae ah sak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.