Phil
Chapter 1

Phil

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Phao-lô và Ti-mô-thê, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho hết thảy các thánh đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, ở thành Phi líp, cùng cho các giám mục và các chấp sự:
1Jesu Kri ih tamna, Pawl hoi Timote mah Philipi vangpui ah kaom Kri Jesu ah kaciim kamimnawk, Kricaa zaehoikungnawk hoi kacoehtanawk khaeah ca tarik:
2nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta và bởi Đức Chúa Jêsus Christ!
2aicae Ampa Sithaw hoi Angraeng Jesu Kri khae hoi ih tahmenhaih hoi monghaih nangcae khaeah om nasoe.
3Mỗi khi tôi nhớ đến anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi,
3Nangcae ka poek kruek Sithaw khaeah kawnhaih lawk ka thuih,
4và mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng cầu cho hết thảy anh em cách hớn hở,
4lawk ka thuih kruek nangcae boih han anghoehaih hoiah ka thuih toepsoep,
5vì cớ từ buổi ban đầu cho đến bây giờ, anh em đã được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin Lành;
5amtong tangsuek na hoi vaihi khoek to tamthanglok hoih thuih naah na thum o thai pongah ni to tiah lawk ka thuih;
6tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ.
6nangcae khaeah kahoih toksak amtong Sithaw nuiah palunghaenghaih ka tawn ai, anih loe Jesu Kri ih ani phak karoek to koep ah toksah tih:
7Tôi nghĩ đến hết thảy anh em dường ấy, là phải lắm; vì anh em ở trong lòng tôi, dầu trong vòng xiềng xích tôi, hoặc trong khi binh vực và làm chứng đạo Tin Lành, thì anh em cũng có dự phần ân điển đã ban cho tôi.
7hae tiah nangcae boih taham ka poekhaih loe amsoem kalang mue ka tih, ka palung thungah nangcae poekhaih oh pongah, sumqui hoi pathlet ah ka oh; tamthanglok to ka pakaa moe, kacakah kang doet haih, nangcae loe ka hnuk ih tahmenhaih qawktoep kami ah ni na oh o.
8Đức Chúa Trời cũng chứng rằng: tôi lấy lòng yêu dấu của Đức Chúa Jêsus Christ mà trìu mến anh em.
8Jesu Kri amlunghaih rang hoiah kawkruk maw nangcae hnuk han ka koeh, tito Sithaw mah panoek.
9Lại, điều tôi xin trong khi cầu nguyện, ấy là lòng yêu thương của anh em càng ngày càng chan chứa hơn, trong sự thông biết và sự suy hiểu,
9Panoekhaih hoi pathlaengthaihaih to tawnh moe, amlunghaih bangah na pung o aep aep hanah lawk ka thuih;
10để nghiệm thử những sự tốt lành hơn, hầu cho anh em được tinh sạch không chỗ trách được, cho đến ngày Đấng Christ,
10to tiah ni Kri ih ani pha ai karoek to kahoih koek, coek koi kaom ai, kaciim hmuen ah na om o thai tih;
11được đầy trái công bình đến bởi Đức Chúa Jêsus Christ, làm cho sáng danh và khen ngợi Đức Chúa Trời.
11Jesu Kri rang hoiah kaom toenghaih thingthai hoiah na koi o ueloe, Sithaw lensawkhaih hoi pakoehhaih to om tih.
12Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin Lành,
12Nawkamyanawk, Kai khae kaom hmuennawk loe, tamthanglok hoih to pakaahaih om ai ah qoengsak tahang han oh, tiah nangcae panoeksak han ka koeh;
13đến nỗi chốn công đường và các nơi khác đều rõ tôi vì Đấng Christ mà chịu xiềng xích.
13Kri pongah sumqui hoi ang pathlet o haih loe, Rom misatuh kaminawk khue mah na ai, ahmuen kruekah kaom kaminawk mah doeh panoek o boeh;
14Phần nhiều trong anh em nhân tôi bị xiềng xích mà có lòng tin rất lớn trong Đấng Christ, dám truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì.
14sumqui hoi pathlethaih ka tong pongah, Angraeng ah kaom nawkamyanawk loe tanghaih bangah thazok o ai, misahoih o parai, zithaih tawn ai ah tamthanglok hoih to taphong o.
15Thật có một đôi người vì lòng ganh tị và cãi lẫy mà rao truyền Đấng Christ, nhưng cũng có kẻ lấy ý tốt mà rao truyền.
15Thoemto kaminawk loe uthaih, angaek koehhaih hoiah Kri tamthanglok to thuih o; thoemto kaminawk mah loe poek hoihhaih hoiah thuih o:
16Những người nầy làm bởi lòng yêu mến, biết rằng: tôi được lập lên để binh vực đạo Tin Lành.
16thoemto kaminawk mah loe kai sumqui hoi pathlet ah ka oh naah, patang ka khanghaih thap aep han a koeh o pongah, poekciimhaih hoi na ai ah, angaek koehhaih palung hoiah ni Kri kawng to thuih o;
17Còn những người kia, vì ý phe đãng xui giục, có lòng rao truyền Đấng Christ cách không ngay thật, tưởng thêm khổ não cho sự xiềng xích tôi.
17toe kai loe kahoih tamthanglok to angdoet haih hanah tokpaek ih kami ah ka oh, tiah panoek o pongah, kalah kaminawk mah loe amlunghaih hoiah taphong o:
18Song có hề gì! Dẫu thế nào đi nữa, hoặc làm bộ, hoặc thật thà, Đấng Christ cũng được rao truyền; ấy vì đó tôi đang mừng rỡ, và sẽ còn mừng rỡ nữa.
18to tiah nahaeloe kawbangmaw om tih? Angsak cophaih hoiah maw tamthanglok to a thuih o, to tih ai boeh loe loktang hoiah, kawbaktih loklam hoiah a thuih o cadoeh, Kri tamthanglok ni a thuih o, to pongah vaihi anghoehaih ka tawnh, ue, hmabangah doeh kang hoe han vop.
19Vì tôi biết rằng nhờ anh em cầu nguyện, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus Christ giúp đỡ, thì điều nầy sẽ trở làm ích cho sự rỗi tôi.
19Lawk na thuih o haih hoiah, Jesu Kri ih Muithla praekhaih rang hoiah, hae hmuen hae kai loihhhaih ah angcoeng lat tih, tiah ka panoek:
20Tôi có lòng trông cậy chắc chắn nầy, việc chi tôi cũng chẳng hổ thẹn cả, nhưng bao giờ cũng thế, tôi nói cách tự do mọi bề, như vậy, dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi.
20kai loe natuek naah doeh azathaih ka tongh mak ai, misahoihaih hoiah ni ka koi poe, to pongah ka hing cadoeh, ka duek cadoeh, ka takpum ah Kri lensawkhaih vaihi amtueng tih, tiah kating ai oephaih ka tawnh.
21Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy.
21Kai hanah loe, hing hae Kri han ih ni, ka duek cadoeh atho oh.
22Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi.
22Toe timaw ka qoih han ka panoek ai; taksa ah ka hing vop nahaeloe, ka toksakhaih thingthai hnuk hanah ni ka hing han.
23Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn;
23To karai parai hmuen hnetto salakah ka oh sut, Kri hoi nawnto oh hanah, duek han ka koeh halat boeh; to tiah oh han hoih kue:
24nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em.
24toe taksa ah ka oh nahaeloe nangcae han atho om kue tih.
25Trong sự tin chắc đó, tôi biết rằng tôi sẽ cứ còn lại và ở với hết thảy anh em, để giúp đức tin anh em được tấn tới và vui vẻ;
25Na qoeng o tahang moe, tanghaih bangah anghoehaih na tawnh o thai han angai vop, tiah ka panoek; to pongah nangcae boih hoi nawnto ka om vop tih, tiah oephaih ka tawnh;
26hầu cho khi tôi lại đến cùng anh em, anh em sẽ nhân tôi mà có nhiều cớ khoe mình luôn trong Đức Chúa Jêsus Christ.
26nangcae khae kang zoh lethaih mah, Jesu Kri ah kai nang hoe o haih aep tih.
27Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin Lành, phàm sự chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình;
27Nangcae khaeah kang zoh cadoeh, kang zo ai cadoeh, poek maeto amhonghaih hoiah nang doet o moe, kahoih tamthanglok tanghaih bangah, nawnto tha pathok o, tiah nangcae ih tamthang ka thaih thai hanah, kho na sak o haih tuinuen loe Kri tamthanglok hoi adue han oh:
28điều đó là một chứng nghiệm chúng nó phải hư mất, còn anh em được cứu rỗi; và ấy là từ nơi Đức Chúa Trời,
28na misanawk zithaih tawn ai ah kho na sak o haih mah, nihcae loe anghmaa angtaa o tih, tito amtuengsak boeh, toe nangcae loe Sithaw rang hoiah pahlonghaih na hnu o tih.
29Ngài nhân Đấng Christ, ban ơn cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì Ngài nữa,
29Anih tang han ih khue na ai, Anih pongah Kri zuengah patangkhang han ih doeh, nangcae hanah tahamhoih to paek boeh.
30là phải chịu cùng một cuộc chiến tranh như anh em đã thấy ở nơi tôi và hiện nay còn nghe nói có nơi tôi.
30Patang ka khanghaih na hnuk o moe, vaihi na thaih o baktih toengah, nangcae doeh na tong o toeng.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.