Êph 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Phao-lô, theo ý muốn Đức Chúa Trời, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho các thánh đồ ở thành Ê-phê-sô, cho những kẻ trung tín trong Đức Chúa Jêsus Christ:
1Sithaw koehhaih rang hoiah Jesu Kri mah patoeh ih kami, Pawl mah, Efisa vangpui ah kaom kaciim kaminawk hoi Kri Jesu ah oepthok kaminawk khaeah ca tarik:
2nguyền xin ân điển và sự bình an được ban cho anh em từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!
2Angraeng Jesu Kri, aicae Ampa Sithaw khae hoiah tahmenhaih hoi monghaih nangcae khaeah om nasoe.
3Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời,
3Kri rang hoiah van prae Muithla tahamhoihaih aicae han kapaek Sithaw hoi aicae Angraeg Jesu Kri ampa khaeah tahamhoihaih om nasoe,
4trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời,
4amlunghaih rang hoiah Sithaw hmaa ah ciimcai moe, coek koi kaom ai ah a oh o thai hanah, aicae loe Anih mah long om ai naah Kri ah qoih boeh,
5bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài,
5a koehhaih baktih toengah, Jesu Kri rang hoiah Angmah khaeah a caa ah ohsak hanah, aicae kawng to canghnii hoiah a thuih coek boeh,
6để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài!
6A tahmenhaih hoi lensawkhaih pakoeh hanah, palung ih a Capa rang hoiah aicae to talawk boeh.
7Aáy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài,
7Kathuk a tahmenhaih baktih toengah, anih ih athii rang hoiah angmah ah akranghaih hoi zae tahmenhaih to a hnuk o;
8mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng,
8A tahmenhaih, palunghahaih hoi panoekhaihnawk to paawt ai ah aicae nuiah a kraih boih.
9khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài
9A koehhaih hoi angmah ah khokhanhaih baktih toengah, kathuk angmah ih atimhaih to aicae hanah amtuengsak boeh:
10để làm sự định trước đó trong khi k” mãn, hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất.
10dung kroekhaih akoep naah, Anih mah van ih hmuen hoi long ih hmuennawk boih, Kri ah maeto omsak tih:
11Aáy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán,
11hmuennawk boih a koehhaih baktiah sahkung loe, atimhaih a tawnh baktih toengah, aicae loe anih rang hoiah qawk a hnuk o boeh, tiah canghnii hoiah a thuihcoek boeh.
12hầu cho sự vinh hiển của Ngài nhờ chúng ta là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất mà được ngợi khen.
12Kri ah oephaih tawn hmaloe aicae loe a lensawkhaih pakoeh kami ah a om o tih.
13Aáy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa,
13Loktang lok ah kaom, nangcae pahlonghaih kahoih tamthanglok na thaih o pacoengah ni, nangcae mah doeh anih tanghaih to na tawnh o: anih to na tang o boeh pongah, nangcae loe lokkamhaih kacai Muithla hoiah catui daeng boeh,
14Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến k” chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài.
14A lensawkhaih pakoeh hanah, lokkam ih Kacai Muithla loe, a qan ih hmuen akranghaih pha ai karoek to, aicae qawktoephaih caksakung ah oh.
15Vậy nên, sau khi tôi có nghe đức tin anh em hướng về Đức Chúa Jêsus và tình yêu thương đối với các thánh đồ,
15To pongah Angraeng Jesu tanghaih rang hoiah kaciim kaminawk boih na palung o ti, tiah ka thaih naah,
16thì tôi vì anh em cảm tạ không thôi, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện.
16nangcae han boeng ai ah kawnhaih lawk ka thuih, nangcae han lawkthuih ka pahnet ai.
17Tôi cầu Đức Chúa Trời của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha vinh hiển, ban thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em, để nhận biết Ngài,
17Aicae Angraeng Jesu Kri ih Sithaw, lensawk Ampa mah, anih panoekhaih hoi palunghahaih muithla ang paek o thai hanah, lawk ka thuih:
18lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao,
18oep kaom anih kawkhaih to na panoek o thaih han, nangcae ih palung mik aangsak moe, kaciim kaminawk mah toep han ih lensawk qawk to na panoek o thai han hoi,
19và biết quyền vô hạn của Ngài, đối với chúng ta có lòng tin, là lớn dường nào, y theo phép tối thượng của năng lực mình,
19kalen a thacakhaih hoiah toksak baktih toengah, aicae tangcaanawk khaeah kalen parai a thacakhaih amtuengsak hanah,
20mà Ngài đã tỏ ra trong Đấng Christ, khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời,
20to thacakhaih mah Kri ah toksak naah, Anih to duekhaih thung hoiah pathawk moe, Anih to van prae ah Angmah ih bantang bangah anghnutsak:
21cao hơn hết mọi quyền, mọi phép, mọi thế lực, mọi quân chủ cùng mọi danh vang ra, không những trong đời nầy, mà cũng trong đời hầu đến nữa.
21Anih loe hmuennawk boih ranui ah angraenghaih, akaa tawnhaih, thacakhaih hoi ukhaih to tawnh, hae long nuiah khue ai, angzo han koi long ah doeh ahmin paek ih ahminnawk boih ranui ah oh,
22Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội thánh,
22hmuennawk boih a khok tlim ah a suek moe, kricaabu boih ih lu ah ohhaih to anih khaeah paek boeh,
23Hội thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài.
23to kricaabu loe tih boih boih, hmuennawk boih hoiah kakoi anih akoephaih angmah ih takpum ah oh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.