Êph 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em,
1Kawk ih kami ah na oh o baktih toengah, kawk ih kami hoi kamcuk ah kho na sak o hanah, Angraeng pongah thongkrah kami, Kai mah kang pacae o,
2phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau,
2hmuen boih ah, minawk tlim ah khosakhaih, poeknaemhaih hoi palungsawkhaih to tawn oh loe, maeto hoi maeto amlunghaih hoiah khosah oh;
3dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh.
3Muithla ah poekhaih maeto amhong thai hanah tha pathok oh.
4Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi;
4Oephaih maeto tawnh hanah nangcae to kawk baktih toengah, takpum maeto hoi Muithla maeto ni oh;
5chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem;
5Angraeng maeto, tanghaih maeto, tuinuemhaih maeto,
6chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người.
6kaminawk boih ih Ampa, Sithaw maeto khue ni oh, anih loe aicae boih ranui ah oh, kami boih khaeah oh moe, nangcae boih thungah oh.
7Nhưng, đã ban ân điển cho mỗi một người trong chúng ta theo lượng sự ban cho của Đấng Christ.
7Toe Kri ih tangqum paekhaih baktih toengah, tahmenhaih loe aicae boih khaeah paek boeh.
8Vậy nên có chép rằng: Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, Và ban các ơn cho loài người.
8To pongah ni Anih ranui bangah caeh tahang naah, misong ah kaom kaminawk to a zaeh moe, kaminawk khaeah tangqumnawk to paek, tiah a thuih.
9Vả, những chữ “Ngài đã lên” có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ở dưới đất sao?
9(Anih caeh tahang, tiah thuih naah, anih loe long thung ih kahnaem koek ahmuen ah anghum tathuk hmaloe, tiah doeh thuih koehhaih ih na ai maw?
10Đấng đã xuống tức là Đấng đã lên trên hết các từng trời, để làm cho đầy dẫy mọi sự.
10Anghum tathuk kami loe, hmuen boih koepsak hanah, van boih ranui koekah daw tahang kami to thuih koehhaih ih ni.)
11Aáy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư,
11Anih mah thoemto kaminawk to patoeh ih kami, thoemto kaminawk to tahmaa, thoemto kaminawk to tamthanglok taphong kami, thoemto kaminawk to kricaa zaehoikung hoi patukkung ah paek:
12để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ,
12kaciim kaminawk toksak akoep moe, Kri takpum a qoeng o sak thai hanah,
13cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ.
13aicae boih tanghaih hoi Sithaw Capa panoekhaih bangah maeto ah amhong moe, Kri akoephaih tawn kami maeto ah a pha o ai karoek to om tih;
14Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc,
14aicae loe aling thaih kaminawk mah, aling thai hanah patuk ih loknawk pongah, takhi mah hmuh naah ahnuk ahmaa kangthui nawktanawk baktiah a oh o han om ai,
15nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ.
15toe tih boih ah lu ah kaom, Kri hoi kangvan ah a qoeng o thai hanah, amlunghaih hoiah loktang lok thui kami ah a oh o han oh boeh:
16Aáy nhờ Ngài mà cả thân thể ràng buộc vững bền bởi những cái lắt léo, khiến các phần giao thông với nhau, tùy lượng sức mạnh của từng phần, làm cho thân thể lớn lên, và tự gây dựng trong sự yêu thương.
16Anih khae hoiah ni takpum boih nawnto amcong moe, kamtomh ahuhnawk boih doeh thacaksak, takpum ah kaom tanghangnawk boih mah angmacae ih tok a sak o boih baktih toengah, takpum to amlunghaih bangah a qoeng o sak tahang.
17Vậy, nầy là điều tôi nói và điều tôi nhân danh Chúa mà rao ra: ấy là anh em chớ nên ăn ở như người ngoại đạo nữa, họ theo sự hư không của ý tưởng mình,
17To pongah Angraeng rang hoiah hae tiah lok ka thuih, vaihi hoi kamtong tiah doeh angcoeng ai, Gentelnawk caehhaih baktiah caeh o hma lai ah,
18bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời.
18nihcae panoekhaih loe khoving baktiah tahmuep moe, panoekhaih tawn o ai, palung mik a maeng o pongah, Sithaw hinghaih hoiah amkhraeng o ving boeh:
19Họ đã mất cả sự cảm biết, đành bỏ mình trong một đời buông lung, đem lòng mê đắm không biết chán mà phạm hết mọi điều ô uế.
19nihcae loe azathaih tawn o ai, taksa koehhaih bangah thacak o parai moe, long taksa koeh hmoekhaih palung tawnh o pongah, kaciim ai hmuennawk boih to a sak o.
20Nhưng anh em học cho biết Đấng Christ thì chẳng phải như vậy,
20To baktih hmuen to Kri khae hoiah nam tuk o ai;
21vì anh em đã nghe đạo Ngài, và được dạy dỗ trong Ngài (y theo lẽ thật trong Đức Chúa Jêsus)
21Anih kawng to na thaih o boeh, loktang loe Jesu ah ni oh, tiah anih mah ang patuk o boeh:
22rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lốt người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành,
22canghnii ih aling koehhaih palungthin hoiah kamro kangquem hinghaih to angkhring oh loe,
23mà phải làm nên mới trong tâm chí mình,
23Muithla ah poekhaih palungthin to angtha o sak ah;
24và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.
24toenghaih hoi loktang ciimcaihaih bangah, Sithaw ah sak ih kami kangtha to angkhuk oh.
25Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau.
25To pongah lok amlaihaih to takhoe oh, aicae loe takpum maeto hoi kaom tanghang ah a oh o pongah, kami boih mah a imtaeng kami khaeah loktang lok to thuih han oh.
26Ví bằng anh em đang cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn,
26Palung na phui o, toe zaehaih sah o hmah: palung na phuihaih loe niduem hmah nasoe.
27và đừng cho ma quỉ nhân dịp.
27Setan hanah ahmuen pahoe pae o hmah.
28Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn.
28Paqu kami loe paqu hma lai nasoe: toksah nasoe loe, amtang kaminawk abom hanah, kahoih hmuen to a ban hoiah sah nasoe.
29chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.
29Na pakha thung hoiah loksae tacawt hmah nasoe, tahngai kaminawk atho oh thai hanah, atho kaom lok to patoh oh.
30Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.
30Sithaw ih Kacai Muithla to palungsae o sak hmah, Anih hoiah ni akranghaih ni karoek to hanah catui ang daeng o.
31Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác.
31Hnukmahaih, poek amthuenghaih, palungphuihaih, hraw-anghaih, loksethaih hoi uthaihnawk boih to nangmacae khae hoiah takhoe o ving ah:
32Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.
32maeto hoi maeto nuiah tahmenhaih hoi amlunghaih to tawn oh, Kri ah Sithaw mah ang tahmen o baktih toengah, nangcae doeh maeto hoi maeto tahmenhaih tawn oh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.