Êph 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm.
1Nawktanawk, Angraeng ah nam no hoi nam pa ih lok to tahngai oh: amno ampa lok tahngaihaih loe katoeng hmuen ah oh.
2Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo),
2Nam no hoi nam pa to saiqat ah; hae loe lokkamhaih hmaloe koekah oh;
3hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất.
3to tiah na sak nahaeloe khosak na hoih ueloe, long nuiah na hinglung sawk tih.
4Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó.
4Ampanawk, na caanawk palungphui han sah hmah: Angraeng ah thuitaekhaih hoi patukhaih bangah qoeng o sak ah.
5Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy run sợ, lấy lòng thật thà mà vâng phục kẻ làm chủ mình theo phần xác, như vâng phục Đấng Christ,
5Tamnanawk, Kri ih lok na tahngaih o baktih toengah, poekhaih amkhraeng ai ah, zithaih hoi tasoehhaih hoiah taksa ah na angraeng ih lok to tahngai oh;
6không phải vâng phục trước mặt người mà thôi, như các ngươi kiếm cách làm đẹp lòng người ta, nhưng phải như tôi tớ của Đấng Christ, lấy lòng tốt làm theo ý muốn Đức Chúa Trời.
6minawk palung tongh hanah, minawk mikhnuk ah khue sah o hmah; Kri ih tamna ah na oh o baktih toengah, Sithaw koehhaih to palung thung hoiah sah oh;
7Hãy đem lòng yêu mến hầu việc chủ, cũng như hầu việc Chúa, chẳng phải như hầu việc người ta,
7kami ih toksak baktiah poek ai ah, Angraeng ih toksak baktiah, palung tang hoiah toksah oh:
8vì biết rằng bất luận tôi mọi hay tự chủ, mỗi người đều sẽ nhận lãnh của Chúa tùy việc lành mình đã làm.
8tamna maw tamna ai, kami boih mah a sak o ih kahoih hmuen baktih toengah, Angraeng khae hoiah tangqum to hnu o tih, tito panoek oh.
9Hỡi anh em là người làm chủ, hãy đối đãi kẻ tôi tớ mình đồng một thể ấy, đừng có ngăm dọa chúng nó, vì biết rằng mình với chúng nó đều có một chủ chung ở trên trời, và trước mặt Ngài chẳng có sự tây vị ai hết.
9Angraengnawk, na tamnanawk khaeah to tiah sah oh, nangcae ih angraeng doeh van ah oh, tiah panoek oh loe, tamnanawk to pazih o hmah: Anih loe kami mikhmai khethaih tawn ai.
10Vả lại, anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài.
10Nawkamyanawk, hnukhuem koekah loe anih thacakhaih hoiah Angraeng ah thacak o sak ah.
11Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỉ.
11Setan zoekhaih na pakaa o thai hanah, Sithaw ih aphawnawk to angkhuk oh,
12Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy.
12aicae loe taksa hoi athii kaom misa to a tuh o ai, sakthaihaih akaa katawn, ukkungnawk, hae long vinghaih ukkungnawk hoi kasang ahmuen ah kaom kasae muithlanawk ni a tuk o.
13Vậy nên, hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, hầu cho trong ngày khốn nạn, anh em có thể cự địch lại và khi thắng hơn mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng.
13To pongah Sithaw ih aphaw to angkhuk oh, to tiah ni kahoih ai ni angzoh naah na pakaa o thai ueloe, misa tuk pazawk boih karoek to nang doe o thai tih.
14Vậy, hãy đứng vững, lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, mặc lấy giáp bằng sự công bình,
14To pongah loktang to kaengkaeh ah angzaeng oh loe, toenghaih to saoek padaphaih ah angkhuk oh;
15dùng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an mà làm giày dép.
15taphong han paroep ih angdaehhaih tamthanglok hoih to khokpanai bum ah abuen oh,
16Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ.
16to hmuennawk boih pacoengah, pakaahaih ah kaom tanghaih to angkhuk oh, to tiah ni taqawk mah kah ih hmai kamngaeh palaanawk to na paduek o thai boih tih.
17Cũng hãy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời.
17Pahlonghaih sum lumuek hoi Muithla sumsen ah kaom, Sithaw lok to angnaengh oh.
18Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ.
18Lawkthuih hoi hnikhaih, lawkthuihaih congca hoiah Muithla ah lawkthui o toepsoep ah; lawkthuih thazok ai ah, kaciim kaminawk boih hanah lawk to thui oh.
19Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành,
19Tamthanglok hoih taphonghaih kai khaeah ang paek baktih toengah, misahoihaih hoiah pakha angh moe, kathuk tamthanglok hoih to ka thuih thai hanah, kai han doeh lawk na thui pae o toeng ah.
20mà tôi vì đạo ấy làm sứ giả ở trong vòng xiềng xích, hầu cho tôi nói cách dạn dĩ như tôi phải nói.
20Ka thuih han koi lok to, misahoihaih hoiah ka thuih han ih ni, kai loe sumqui hoi pathlet ih laicaeh ah ka oh.
21Vả, muốn cho anh em cũng biết những sự thuộc về tôi và việc tôi làm, thì có Ti-chi-cơ, anh em rất yêu dấu của chúng ta, là tôi tớ trung thành của Chúa, sẽ báo tin mọi sự cho anh em.
21Kai loe kawbangmaw ka oh, timaw ka sak, tito na panoek o hanah, Angraeng ah oep kathok toksah kamnawk, Tukika mah, hmuennawk boih na thui o tih:
22Tôi đã sai người đi, có ý cho anh em biết tình cảnh chúng tôi là thể nào, để yên ủi lòng anh em.
22kaicae khosakhaihnawk na panoek o moe, nangcae pathloep thai hanah, anih to kang patoeh.
23Nguyền xin anh em được sự bình an, sự yêu thương cùng đức tin ban cho bởi Đức Chúa Trời, là Cha, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ!
23Angraeng Jesu Kri hoi Ampa Sithaw khae ih monghaih, tanghaih hoi amlunghaih to nawkamyanawk khaeah om nasoe.
24Nguyền xin ân điển ở với hết thảy những kẻ lấy lòng yêu thương chẳng phai mà kính mến Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta!
24Aicae Angraeng Jesu kri palunghaih tawn tangtang kaminawk boih khaeah tahmenhaih om nasoe. Amen.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.