I Phia 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn,
1Jesu Kri mah patoeh ih kami maeto ah kaom Piter mah, Pontius, Kalati, Cappadocia, Asia hoi Bithinia ah kaproeng kaminawk khaeah ca tarik,
2theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!
2Ampa Sithaw ih panoek coekhaih hoiah qoih ih kami, Muithla rang hoiah ciimcaihaih hnu kami, tanghaih tawnh pongah Jesu Kri ih athii hoiah pasaeh ih kami, nangcae khaeah tahmenhaih hoi monghaih to om nasoe.
3Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống,
3Aicae Angraeng Jesu Kri, Ampa Sithaw khae hoi tahamhoihaih nangcae khaeah om nasoe, kathuk a palungnathaih hoiah aicae hae a capa ah tapen let boeh moe, Jesu Kri duekhaih thung hoi angthawk lethaih rang hoiah kahing oephaih to paek let boeh.
4là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em,
4Nangcae hanah kahmawn thai ai, kamhnong thai ai, kazaem thai ai qawk to van ah suek coek boeh,
5là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt!
5tanghaih rang hoiah pahlonghaih to hnuk moe, hnukkhuem niah amtuengsak hanah to toep hankoi qawk loe Sithaw thacakhaih mah toep.
6Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu;
6Vaihi atue setta thung angaihaih baktiah, congca pacuekhaih hoi hmuenzit to na phawh o, toe thuilaek ai anghoehaih hoiah khosah oh:
7hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
7tanghaih kacak na tawnh o maw, tawn ai, tiah tanoekhaih loe anghma thai koi kaom sui pongah doeh atho oh kue, hmai hoiah tanoek cadoeh, Jesu Kri amtueng naah loe pakoehhaih, khingyahaih hoi lensawkhaihnawk to na hnu o tih:
8Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến; dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển:
8Anih to na hnu o ai, toe na palung o; vaihi Anih to na hnu o ai cadoeh, na tang o pongah thuilaek ai lensawkhaih hoi anghoehaih hoiah na oh o:
9nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình.
9hnukkhuem ah tanghaih hoiah kaom nangmacae pakhra pahlonghaih to na hnu o tih.
10Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em:
10To pahlonghaih to panoek han koeh o pongah, tahmaanawk mah loktangta hoiah pakrong o moe, nangcae khae kaom hankoi tahmenhaih kawng to a thuih o.
11nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau.
11Kri patangkhang moe, duek pacoengah kaom hankoi lensawkhaih to Anih mah thuih coek naah, nihcae thungah kaom Kri ih Muithla mah thuih koehhaih loe mi maw, to tih ai boeh loe kawbaktih atue maw a thuih koeh haih, tito panoek hanah nihcae mah pakrong o.
12Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em, bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin Lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó.
12Nihcae loe angmacae hanah toksah o ai, aicae hanah ni tok ang sak pae o, tito amtueng boeh; van hoiah patoeh ih Kacai Muithla rang hoiah nangcae khaeah tamthanglok hoih taphong kaminawk mah, to hmuennawk to nangcae khaeah vaihi ang thuih o boeh. Vankaminawk mah mataeng doeh to hmuennawk to panoek han koeh o moe, pakrong o.
13Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
13To pongah na poek o haih to kaengkaeh baktiah kacakah angzaeng oh loe, poek cai oh, Jesu Kri amtueng naah nangcae khaeah paek hankoi kaom tahmenhaih nuiah oephaih to suem oh;
14Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội.
14lok tahngai kami ah na oh o baktih toengah, canghniah taksa koehhaih baktiah poekhaih tawn ai ah kho na sak o haih baktiah om o let hma lai ah:
15Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình,
15nang kakawk Anih loe ciimcai baktih toengah, nangcae doeh na sak o ih hmuennawk boih ah ciimcai oh;
16bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh.
16Kai ciimcai pongah, nangcae doeh ciimcai oh, tiah tarik ih oh.
17Nếu anh em xưng Đấng không tây vị anh em, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy,
17Sithaw loe kami mikhmai to khen ai, tok a sak ih baktih toengah kami boih to lok a caek, Anih to Pa, tiah na kawk o nahaeloe, hae long nuiah angvin ah na oh o nathung, Anih zithaih hoiah khosah oh.
18vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình,
18Na panoek o baktih toengah, nangcae loe kahmawn thaih hmuen ah kaom sui hoiah maw, to tih ai boeh loe sum kanglung hoiah maw akrang ai, nangmacae ampanawk khae hoiah na hnuk o ih atawk, tidoeh avang ai khosakhaih thung hoiah ni Sithaw mah ang krang o;
19bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít,
19toe coek hankoi kaom ai, kasae thuih hankoi kaom ai tuuca ah kaom, atho kana Kri ih athii hoiah ni ang krang o:
20đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em,
20Anih loe long ohhaih ahmuen om ai nathuem hoi boeh ni tok to paekcoek boeh, toe Anih loe atue boeng naah ni nangcae khaeah amtueng vop,
21là kẻ nhân Đức Chúa Jêsus tin đến Đức Chúa Trời, tức là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và ban sự vinh hiển cho Ngài đến nỗi đức tin và sự trông cậy anh em được nương nhờ Đức Chúa Trời.
21Anih rang hoiah ni Sithaw na tang o, Sithaw mah duekhaih thung hoiah anih to pathawk moe, anih han lensawkhaih to paek; to pongah nangcae tanghaih hoi oephaih loe Sithaw ah ni oh.
22Anh em đã vâng theo lẽ thật làm sạch lòng mình, đặng có lòng yêu thương anh em cách thật thà, nên hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng;
22Loktang lok tahngaihaih rang hoiah ni pakhra to na ciim o sak, to pongah Muithla rang hoiah tangtang nawkamya amlunghaih to amtueng o sak ah loe, poek ciimhaih hoiah maeto hoi maeto amlung oh.
23anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.
23Kanghmaa thaih atii hoiah na ai ah, anghmaa thai ai atii, kahing moe, dungzan ah kacak, Sithaw lok hoiah na tapen o let boeh.
24Vì, Mọi xác thịt ví như cỏ, Mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ. Cỏ khô, hoa rụng,
24Taksa boih loe phroh baktiah ni oh, phroh loe azaem moe, apawk doeh angmuen, kami lensawkhaih boih loe phroh apawk baktiah ni oh.
25Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em.
25Toe Angraeng ih lok loe dungzan ah cak poe. Nangcae khaeah ang thuih o ih to lok loe kahoih tamthanglok ah oh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.