I Phia
Chapter 1

I Phia

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn,
1O PETERO, kekahi lunaolelo no Iesu Kristo, i ka poe i puehu liilii, a e noho malihini ana hoi ma Poneto, a ma Galatia, a ma Kapadokia, a ma Asia, a ma Bitunia;
2theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!
2Ma ka ike mua ana o ke Akua, ka Makua, ma o ka huikala ana o ka Uhane, ua waeia mai oukou, i poe hoolohe, a i poe e kapipiia i ke koko o Iesu Kristo; i nui ko oukou alohaia mai, a me ka maluhia hoi.
3Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống,
3E hoomaikaiia'ku ke Akua, ka Makua o ko kakou Haku o Iesu Kristo, no kona lokomaikai nui iho, nana no i hoohanau mai ia kakou, i lana mau loa ai ka manao, ma ke alahouana o Iesu Kristo, mai ka make mai;
4là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em,
4I loaa mai ia kakou ka hooilina pau ole, pelapela ole, mae ole, ua hoana e ia ma ka lani no kakou;
5là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt!
5Ka poe i malamaia mai e ka mana o ke Akua, ma ka manaoio, i loaa mai ke ola i hoomakaukauia no ka hoikeia mai i ka wa mahope.
6Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu;
6Malaila no oukou e hauoli nui nei, oiai nae ua kaumaha oukou i keia wa pokole, no ka hoao pinepine ia mai, i mea e pono ai;
7hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
7I lilo hoi ka hoao ana o ko oukou manaoio, ka mea i oi aku ka maikai mamua o ke gula pau wale, i hoaoia i ke ahi, i mea e mahaloia'i, a e hoomaikaiia'i, a e hoonani ia'i i ka wa e ikea mai ai o Iesu Kristo:
8Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến; dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển:
8Ka mea a oukou i ike maka ole ai, a ua makemake no nae; a, me ka ike ole aku ia ia, ua manaoio aku no nae oukou ia ia me ka hauoli i ka olioli nani pau ole i ka haiia aku;
9nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình.
9E loaa mai ana ka hope o ko oukou manaoio, o ke ola o ko oukou poe uhane.
10Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em:
10Oia ke ola a na kaula i huli ai, me ka imi ikaika, o ka poe i wanana mai i ka pono e hiki mai ana io oukou nei.
11nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau.
11Ua imi nui no lakou i ka mea a me ka manawa a ka Uhane o Kristo i hai mai ai iloko o lakou, i kona hoike mua ana mai i ka hoinoia o Kristo, a me ka hoonaniia, mahope o keia mau mea.
12Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em, bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin Lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó.
12Ua hoikeia mai ia lakou, aole nae na lakou, na kakou, na mea a lakou i ao mai ai; oia hoi na mea i haiia'ku nei ia oukou, e ka poe hai aku i ka euanelio ia oukou, me ka Uhane Hemolele i hoounaia mai, mai ka lani mai: oia ka na anela i makemake ai e ike iho.
13Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
13No ia mea, e kaei oukou i ka puhaka o ko oukou naau, e kuoo, a e hoomau i ka lana ana o ka manao, no ke alohaia mai i ka wa e hoikea mai ai o Iesu Kristo;
14Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội.
14I like hoi oukou me na keiki hoolohe, aole e hoolike ana ia oukou iho me na kuko kahiko, i ko oukou wa e naaupo ana.
15Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình,
15Aka, e like me ka hemolele o ka mea nana oukou i koho mai, pela oukou e hemolele ai, i ko oukou noho ana a pau:
16bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh.
16No ka mea, na palapalaia mai, E hemolele oukou; no ka mea, owau ka hemolele.
17Nếu anh em xưng Đấng không tây vị anh em, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy,
17Ina oukou e hea aku i ka Makua, i ka mea i hoomaopopo me ka ewaewa ole, i kela kanaka, i keia kanaka, ma ke ano o kana hana ana, e noho oukou me ka makau, i ko oukou noho malihini ana.
18vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình,
18Ua ike no hoi oukou, aole me na mea popo wale e like me ke kala a me ke gula, ua kuaiia oukou mai ko oukou noho lapuwale ana, mamuli o na mooolelo a ko oukou kupuna mai;
19bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít,
19Aka, me ke koko waiwai io o Kristo, me ko ke keikihipa kina ole a me ka hala ole:
20đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em,
20Ua boonohoia oia mamua o ka hookumu ana o ke ao nei; aka, ua hoikeia mai i keia wa hope no oukou,
21là kẻ nhân Đức Chúa Jêsus tin đến Đức Chúa Trời, tức là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và ban sự vinh hiển cho Ngài đến nỗi đức tin và sự trông cậy anh em được nương nhờ Đức Chúa Trời.
21Ma ona la oukou i manaoio aku ai i ke Akua, nana i hoala mai ia ia mai ka make mai, a i hoonani aku ia ia; i manaoio ai, a i lana ai hoi ko oukou manao i ke Akua.
22Anh em đã vâng theo lẽ thật làm sạch lòng mình, đặng có lòng yêu thương anh em cách thật thà, nên hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng;
22I ka malama ana i ka oiaio, ua hoomaemae oukou i ko oukou naau, na ka Uhane mai, i ke aloha hookamani ole i na hoahanau; nolaila, ea, e aloha ikaika loa aku oukou i kekahi i kekahi me ka naau maemae.
23anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.
23Ua hanau hou ia mai oukou, aole hoi na ka hua e pala wale ana, aka, na ka hua pala ole, ma ka olelo a ke Akua ola, ka mea e mau loa ana.
24Vì, Mọi xác thịt ví như cỏ, Mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ. Cỏ khô, hoa rụng,
24No ka mea, ua like wale no me ka mauu na kanaka a pau, a o kona nani a pau, ua like me ka pua o ka mauu. E maloo ana no ka mauu. a haule wale iho no hoi kona pua;
25Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em.
25Aka, e mau loa aku no ka olelo a ke Akua; oia hoi ka olelo i aoia'ku nei ia oukou ma ka euaneho.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.