Gióp
Chapter 1
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Tại trong xứ Uùt-xơ có một người tên là Gióp; người ấy vốn trọn vẹn và ngay thẳng; kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác.
1HE kanaka ma ka aina o Uza, o Ioba kona inoa, ua pono, ua pololei hoi ua kanaka la, a ua makau no ia i ke Akua, a hoopale i ka hewa.
2Người sanh được bảy con trai và ba con gái;
2Ua hanauia nana ehiku mau keikikane, a me na kaikamahine ekolu.
3có bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái, và tôi tớ rất nhiều; người ấy lớn hơn hết trong cả dân Đông phương.
3O kana waiwai, ehiku tausani hipa me na kao, ekolu tausani kamelo, elima haneri bipikaulua a elima haneri hoki wahine, a he nui loa kona poe ohua; nolaila, ua oi aku ke koikoi o keia kanaka mamua o na kanaka a pau o ka hikina.
4Các con trai người hay đi dự tiệc, đãi thay phiên nhau trong nhà của mỗi người; và sai mời ba chị em gái mình ăn uống chung với mình.
4A hele aku la kana mau keikikane, a ahaaina iho la ma ka hale, o kela mea keia mea o lakou i kona la; a hoouna aku la, a hea aku i ko lakou mau kaikuwahine ekolu, e ai pu a e inu pu me lakou.
5Xảy khi các ngày yến tiệc xong rồi, Gióp sai người đi dọn các con cái mình cho thanh sạch, thức dậy sớm, dâng của lễ thiêu tùy số chúng nó; vì người nói rằng: Dễ thường các con ta có phạm tội, và trong lòng từ chối Đức Chúa Trời chăng. Gióp hằng làm như vậy.
5A i ka manawa i hala ae ai na la o ka ahaaina ana, hoouna aku la o Ioba a hoomaemae ia lakou, a ala ae la i kakahiaka nui, a kaumaha aku la i na mohaikuni e like me ka nui o lakou a pau; no ka mea, i iho la o Ioba, Malia paha ua hana hewa ka'u mau keikikane, a ua olelo hoino i ke Akua ma ko lakou naau. Pela o Ioba i hana'i i na la a Pau.
6Vả, một ngày kia các con trai của Đức Chúa Trời đến ra mắt Đức Giê-hô-va, và Sa-tan cũng đến trong vòng chúng.
6A i kekahi la, i ka manawa i hele ai na keiki a ke Akua e hoike aku ia lakou iho imua o Iehova, i hele mai hoi o Satana iwaena o lakou.
7Đức Giê-hô-va phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi ở đâu đến? Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va rằng: Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi nó.
7A i mai la o Iehova ia Satana, Nohea oe i hele mai nei? olelo aku la o Satana ia Iehova, Mai ka auwana ana ma ka honua, a mai ka hele ana io ia nei malaila.
8Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?
8I mai la o Iehova ia Satana, Ua noonoo pono anei oe i ka'u kauwa ia Ioba, aohe mea like me ia ma ka honua, he kanaka pono me ka pololei, ua makau i ke Akua, a ua hookaaokoa i ka hewa.
9Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va rằng: Gióp há kính sợ Đức Chúa Trời luống công sao?
9Alaila olelo aku la o Satana ia Iehova, i aku la, Ke makau kumu ole la anei o Ioba i ke Akua?
10Chúa há chẳng dựng hàng rào binh vực ở bốn phía người, nhà người, và mọi vật thuộc về người sao? Chúa đã ban phước cho công việc của tay người và làm cho của cải người thêm nhiều trên đất.
10Aole anei oe i hoopuni ia ia, a me kona hale a me kona mea a pau i ka pa ma na aoao a pau? Ua hoopomaikai oe i ka hana a kona mau lima, a mahuahua kona waiwai ma ka aina.
11Nhưng bây giờ hãy giơ tay Chúa ra, đụng đến hại các vật người có, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt.
11Aka, e kikoo aku ano i kou lima, a hoopa i kana mau mea a pau, a e hoino no kela ia oe imua o kou maka.
12Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan rằng: Nầy, các vật người có đều phó trong tay ngươi; nhưng chớ tra tay vào mình nó. Sa-tan bèn lui ra khỏi mặt Đức Giê-hô-va.
12Olelo mai la o Iehova ia Satana, Aia hoi, iloko o kou lima kana mau mea a pau; aka, maluna ona mai kau aku oe i kou lima. A hele aku la o Satana mai ke alo aku o Iehova.
13Xảy một ngày kia, khi các con trai và con gái người đang ăn và uống rượu trong nhà anh cả chúng nó,
13A i kekahi la, i ka manawa o kana mau keikikane a me kana mau kaikamahine e ahaaina ana, a e inu waina ana iloko o ka hale o ko lakou hanau mua;
14một sứ giả đến báo tin cho Gióp rằng: Bò đang cày, lừa đang ăn gần bên cạnh,
14Hele mai kekahi elele io Ioba la, i mai la, O na bipikauo e hoopalau ana, a o na hoki wahine e ai ana ma ko lakou aoao;
15thì dân Sê-ba xông vào chúng nó, đoạt cướp đi, và lấy lưỡi gươm giết các tôi tớ; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
15A popoi mai la ka poe Seba maluna o lakou, a lawe pio aku la i ia lakou; a pepehi iho la lakou i na kanaka opiopio me ka maka o ka pahikaua; a owau wale no ka i pakele e hai aku ia oe.
16Người nầy còn đang nói, thì một người khác đến, báo rằng: Lửa của Đức Chúa Trời từ trên trời giáng xuống thiêu đốt các con chiên và tôi tớ, làm cho tiêu hủy chúng nó đi; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
16A i kana kamailio ana, hele mai kekahi, i mai la, Ua lele mai ke ahi a ke Akua mai ka lani mai, a ua ai iho i na hipa a me na kahu, a ua hoopau ia lakou; a owau wale no ka i pakele e hai aku ia oe.
17Người nầy còn đang nói, thì một kẻ khác chạy đến, báo rằng: Dân Canh-đê phân làm ba đạo, xông vào lạc đà, cướp đoạt đi, và lấy lưỡi gươm giết các tôi tớ; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
17A i kana kamailio ana, hele mai kekahi e ae, i mai la, Hoonohonoho iho la ka poe Kaledea i ekolu poe kaua, a lele mai lakou maluna o na kamelo, a lawe pio aku ia lakou, a pepehi iho la i na kauwa opiopio me ka maka o ka pahikaua; a owau wale no ka i pakele e hai aku ia oe.
18Người nầy còn đang nói, thì một kẻ khác chạy đến, báo rằng: Các con trai và con gái ông đang ăn uống tại nơi nhà anh cả của họ,
18I kana kamailio ana, hele mai kekahi e ae, i mai la, O kau mau keikikane, a me kau mau kaikamahine, e ai ana a e inu waina ana iloko o ka hale o ko lakou hanau mua:
19kìa một ngọn gió lớn từ phía bên kia sa mạc thổi đến, làm cho bốn góc nhà rung rinh, nhà sập xuống đè chết các người trẻ tuổi; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
19Aia hoi, hiki mai la ka makani ikaika mai ka aoao o ka waonahele mai, a nou mai ma na kihi eha o ka hale, a hina iho la ia maluna o na kanaka opiopio, a ua make lakou; a owau wale no ka i pakele e hai aku ia oe.
20Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy,
20Alaila ku ae la o Ioba, a baehae iho la i kona aahu, a ako i kona poo, a hina ilalo i ka honua, a hoomana aku la,
21và nói rằng: Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!
21I iho la, I hele kohana mai no au mai ka opu mai o ko'u makuwahine, a e hoi kohana aku au ilaila: na Iehova i haawi mai, na Iehova hoi i lawe aku; e hoomaikaiia ka inoa o Iehova.
22Trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời.
22Ma keia mea a pau, aole o Ioba i hana hewa, aole hoi ia i hooili wale aku i ka hewa i ke Akua.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.