Gióp
Chapter 37
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Phải, trái tim tôi run sợ vì sự đó, Nó nhảy động dời khỏi chỗ nó.
1NO keia mea hoi haalulu kuu naau, A nauwe ae mai kona wahi aku.
2Khá nghe, khá nghe giọng vang dầy của tiếng Ngài, Và tiếng ầm ầm ra khỏi miệng Ngài!
2E hoolohe pono i ka poha ana o kona leo, A me ka halulu e puka ana mai kona waha mai.
3Ngài khiến nó dội dưới các từng trời, Và chớp nhoáng Ngài chiếu đến cùng trái đất.
3Malalo o ka lani a pau nana no ia i nou aku, A o kona malamalama i na welau o ka honua.
4Kế liền có tiếng ầm ầm, Ngài phát tiếng oai nghi và sấm rền ra, Và khi nổi tiếng Ngài lên, thì không cầm giữ chớp nhoáng lại.
4Mahope o ia mea, poha mai ka leo; Hoohekili mai ia me kona leo mana; Aole ia e hoopaa ia lakou i loheia'i kona leo.
5Đức Chúa Trời phát tiếng và sấm rền ra lạ kỳ; Ngài làm những công việc lớn lao mà chúng ta hiểu không nổi?
5Hoohekili kupanaha mai la ke Akua me kona leo; Hana no ia i na mea nui, aole e ike maopopo ia.
6Vì Ngài phán với tuyết rằng: Hãy sa xuống đất! Và cũng phán vậy cho trận mưa mây và mưa lớn.
6No ka mea, ua i aku ia i ka hau, E kau ma ka honua, A i ka ua liilii, a me ka ua nui o kona ikaika.
7Ngài niêm phong tay của mọi người, Để mọi người Ngài đã dựng nên biết được công việc của Ngài.
7Hoopaa aku ia i ka lima o na kanaka a pau, I ike na kanaka a pau i kana haua.
8Khi ấy các thú vật rừng rút trong hang nó, Và ở trong hầm của chúng nó.
8A komo na holoholona iloko o na lua, A noho ma ko lakou mau wahi.
9Từ các lầu các phương nam bão tuôn tới, Và gió bắc dẫn lạnh lẽo đến.
9Mai ke kukulu hema i hele mai ka puahiohio, A mai ke kukulu akau ke anu.
10Nước đá thành ra bởi hơi thở của Đức Chúa Trời; Bề rộng của nước đông đặc lại.
10Mai ka hanu o ke Akua i haawiia mai ka wai paa: A o ka palahalaha o na wai, ua hoopaaia.
11Ngài chứa nước trong mây, Và giăng ra các mây chớp nhoáng của Ngài;
11O ka wa malie hoi, ua kipaku ia i ke ao: Ua hoohehee kona malamalama i ka ohu:
12Nhờ Ngài dẫn dắt, nó bay vận khắp tứ phương, Đặng làm xong công việc mà Ngài phán biểu nó làm trên khắp trái đất.
12A ua hoohuliia'ku ia a puni ma kona manao; I hana aku ai lakou i na mea a pau ana i kauoha mai ai, Ma ke alo o ka honua a puni.
13Ngài sai mây hoặc để giáng họa, hoặc để tưới đất, Hoặc để làm ơn cho loài người.
13Ina no ka laau hahau, ina no kona aina, Ina no ke aloha, nana no ia i hoopuka mai.
14Hỡi Gióp, hãy nghe lời nầy, Khá đứng yên, suy nghĩ về các việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
14E hoolohe mai oe, e Ioba, i keia; E ku malie, a e noonoo i na hana kupanaha a ke Akua.
15Oâng có biết cách nào Đức Chúa Trời sắp đặt các việc ấy chăng? Cách nào Ngài chiếu lòa chớp nhoáng của mây Ngài chăng?
15Ua ike anei oe i ka hooponopono ana o ke Akua ia lakou, A hoopuka mai i ka malamalama o kona ao?
16Oâng có biết mây cân bình sao chăng? Có hiểu công việc diệu kỳ của Đấng có trí huệ trọn vẹn sao chăng?
16Ua ike anei i na kaupaona ana o na ao, I na hana kupanaha o ka mea hemolele i ka ike?
17Có biết cớ sao quần áo ông nóng, Khi Ngài lấy gió nam mà làm cho trái đất được an tịnh?
17A pehea hoi i mahana ai kou kapa, I ka wa i hoomalie mai ai oia i ka aina i ka makani kukulu hema?
18Oâng có thế trải bầu trời ra với Đức Chúa Trời chăng? Nó vốn vững chắc như một tấm kính đúc.
18E hiki anei ia oe me ia ke hohola aku i ke aouli, He ikaika, e like me ke aniani i hooheheeia?
19Hãy dạy cho chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Ngài; Vì tại sự dốt nát, chúng tôi chẳng biết bày lời gì với Ngài.
19E hoike mai oe ia makou i ka mea a makou e olelo aku ai ia ia; Aole makou e olelo aku, no ka pouli.
20Người ta há sẽ thuật với Đức Chúa Trời rằng tôi muốn thưa với Ngài sao? Nếu ai nói với Ngài, quả hẳn sẽ bị nuốt đi.
20E haiia aku anei ia ia, ke olelo aku au? Ina e olelo aku ke kanaka, e aleia auanei oia.
21Bây giờ, người ta không thấy sự sáng chói lòa, nó đã ẩn trong mây; Nhưng gió thổi qua xô mây đi và trời trong trẻo lại.
21Ano aole lakou i ike i ka malamalama alohilohi iloko o na ao; A hele ae la ka makani a hoomaemae ia lakou.
22Ráng vàng từ phương Bắc đến; Nơi Đức Chúa Trời có oai nghiêm đáng sợ thay!
22Mai ke kukulu akau ke alohilohi gula i hele mai ai; Aia i ke Akua ka nani weliweli.
23Luận về Đấng Toàn năng, ta không tìm thấy đến Ngài được: Ngài vốn rất quyền năng, rất chánh trực và công bình cực điểm, không hề hà hiếp ai.
23O ka Mea mana, aole e loaa ia kakou ia; Ua hoonui i ka ikaika, a i ka pono, a ua nui hoi i ka lokomaikai; Aole ia e hookaumaha.
24Bởi cớ ấy nên loài người kính sợ Ngài; Ngài không đoái đến kẻ nào tưởng mình có lòng khôn ngoan.
24A makau na kanaka ia ia; Aole ia e maliu mai i ka poe naauao a pau.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.