Gióp
Chapter 37
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Phải, trái tim tôi run sợ vì sự đó, Nó nhảy động dời khỏi chỗ nó.
1Hae hmuen pongah ka palungthin tasoeh moe, a ohhaih ahmuen hoiah angthuih ving.
2Khá nghe, khá nghe giọng vang dầy của tiếng Ngài, Và tiếng ầm ầm ra khỏi miệng Ngài!
2A thuih ih lok, anih ih pakha thung hoiah tacawt lok to kahoih ah tahngai ah.
3Ngài khiến nó dội dưới các từng trời, Và chớp nhoáng Ngài chiếu đến cùng trái đất.
3A thuih ih lok loe van tlim ah kaom ahmuen boih ah phak moe, tangphrapuekhaih doeh long boenghaih ahmuen khoek to phak.
4Kế liền có tiếng ầm ầm, Ngài phát tiếng oai nghi và sấm rền ra, Và khi nổi tiếng Ngài lên, thì không cầm giữ chớp nhoáng lại.
4Tangphrapuek pacoengah lok to angzoh; a lensawkhaih lok hoiah kho to pazisak; lok tacawt pacoengah loe, takhi sae songhaih diisak let mak ai boeh.
5Đức Chúa Trời phát tiếng và sấm rền ra lạ kỳ; Ngài làm những công việc lớn lao mà chúng ta hiểu không nổi?
5Dawnrai koi kaom ah Sithaw mah khopazih lok to tacawtsak; aicae mah panoek thai ai ih kalen parai hmuennawk to anih mah sak.
6Vì Ngài phán với tuyết rằng: Hãy sa xuống đất! Và cũng phán vậy cho trận mưa mây và mưa lớn.
6Dantui khaeah, Long ah krah ah, tiah a naa. Khotui khaeah, Kalen parai kho angzoh hanah lok a paek.
7Ngài niêm phong tay của mọi người, Để mọi người Ngài đã dựng nên biết được công việc của Ngài.
7Kami boih mah a sak ih hmuen panoek thai hanah, kami boih mah sak ih tok to anghaksak.
8Khi ấy các thú vật rừng rút trong hang nó, Và ở trong hầm của chúng nó.
8Taw ih moinawk loe akhaw thungah caeh o moe, athung ah abuep o.
9Từ các lầu các phương nam bão tuôn tới, Và gió bắc dẫn lạnh lẽo đến.
9Aloih bang hoiah takhi kamhae to angzoh moe, aluek bang hoiah kangqai to angzoh.
10Nước đá thành ra bởi hơi thở của Đức Chúa Trời; Bề rộng của nước đông đặc lại.
10Sithaw ih takhi mah hmuh pongah, tui to amkhawk, kawk parai tuinawk loe amkhawk o.
11Ngài chứa nước trong mây, Và giăng ra các mây chớp nhoáng của Ngài;
11Tamai to tui hoiah koisak moe, ni aengh mah tamai to angkhoengsak phaeng.
12Nhờ Ngài dẫn dắt, nó bay vận khắp tứ phương, Đặng làm xong công việc mà Ngài phán biểu nó làm trên khắp trái đất.
12Long ah kaom hmuennawk boih loe, a thuih ih lok baktih toengah, sak o hanah a thuih ih lok hoiah ni amhae o.
13Ngài sai mây hoặc để giáng họa, hoặc để tưới đất, Hoặc để làm ơn cho loài người.
13Kaminawk thuitaek han ih, to tih ai boeh loe angmah ih long to khetzawn han ih, to tih ai boeh loe palungnathaih amtuengsak han ih, to tiah ohsak.
14Hỡi Gióp, hãy nghe lời nầy, Khá đứng yên, suy nghĩ về các việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
14Aw Job hae lok hae tahngai ah; dawnrai koi kaom Sithaw ih hmuennawk hae, anghngaih duem ah loe, poek ah.
15Oâng có biết cách nào Đức Chúa Trời sắp đặt các việc ấy chăng? Cách nào Ngài chiếu lòa chớp nhoáng của mây Ngài chăng?
15Sithaw mah kawbangmaw tamainawk to amzamsak moe, aanghaih to ohsak, tiah na panoek maw?
16Oâng có biết mây cân bình sao chăng? Có hiểu công việc diệu kỳ của Đấng có trí huệ trọn vẹn sao chăng?
16Palunghahaih hoi kakoep, dawnrai koi kaom, Sithaw mah sak ih hmuen ah kaom, tamainawk to kawbangmaw amzamsak, tito na panoek vai maw?
17Có biết cớ sao quần áo ông nóng, Khi Ngài lấy gió nam mà làm cho trái đất được an tịnh?
17Aloih bang ih takhi mah long to betsak naah, na khukbuen to kawbangmaw bet, tiah na panoek vai maw?
18Oâng có thế trải bầu trời ra với Đức Chúa Trời chăng? Nó vốn vững chắc như một tấm kính đúc.
18Sithaw mah kabae amdingsak hanah tamai to taboksak, nang loe to tiah na sak thai maw?
19Hãy dạy cho chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Ngài; Vì tại sự dốt nát, chúng tôi chẳng biết bày lời gì với Ngài.
19Anih khaeah timaw ka thuih o han, tito na patuk ah; khoving pongah tidoeh ka sah o thai ai boeh.
20Người ta há sẽ thuật với Đức Chúa Trời rằng tôi muốn thưa với Ngài sao? Nếu ai nói với Ngài, quả hẳn sẽ bị nuốt đi.
20Lokthuih ka koeh, tiah Anih khaeah ka thuih han maw? Kami mah to tiah thui nahaeloe, to kami to anih mah amrosak tangtang tih.
21Bây giờ, người ta không thấy sự sáng chói lòa, nó đã ẩn trong mây; Nhưng gió thổi qua xô mây đi và trời trong trẻo lại.
21Takhi song moe, tamai to hmuh phaeng naah, mi mah doeh ni aengh to khen thai ai.
22Ráng vàng từ phương Bắc đến; Nơi Đức Chúa Trời có oai nghiêm đáng sợ thay!
22Anih loe kampha sui baktiah aluek bang hoiah angzoh; Sithaw loe zitthok Lensawkhaih hoiah akoep.
23Luận về Đấng Toàn năng, ta không tìm thấy đến Ngài được: Ngài vốn rất quyền năng, rất chánh trực và công bình cực điểm, không hề hà hiếp ai.
23Thacak Sithaw loe aicae mah hnu thai ai; anih loe thacakhaih, lokcaekhaih hoi toenghaih hoiah akoep; anih loe mi kawbaktih doeh pacaekthlaek ai.
24Bởi cớ ấy nên loài người kính sợ Ngài; Ngài không đoái đến kẻ nào tưởng mình có lòng khôn ngoan.
24To pongah kaminawk mah anih to zit o; anih loe palungha kami ni, tiah poek ih kaminawk khingyahaih to tawn ai, tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.