Gióp 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nầy, mắt ta đã thấy các điều đó, Tai ta có nghe và hiểu đến.
1Khenah, hae hmuennawk hae ka mik mah hnuk boeh; ka naa mah thaih moe, panoek boeh.
2Điều gì các ngươi biết, ta cũng biết với. Ta chẳng kém hơn các ngươi đâu.
2Na panoek ih hmuen to, ka panoek toeng; nang pongah ka hnaem kue ai.
3Song ta muốn thưa với Đấng Toàn năng, Ước ao biện luận cùng Đức Chúa Trời:
3Toe Thacak Sithaw khaeah ka thuih moe, Sithaw hoi angaek hanah ka koeh.
4Còn các ngươi là kẻ đúc rèn lời dối trá; Thảy đều là thầy thuốc không ra gì hết.
4Toe nangcae loe amsawnlok thui kami, tidoeh avang ai siboi ah ni na oh o.
5Chớ chi các ngươi nín lặng! Đó sẽ là sự khôn ngoan của các ngươi.
5Lok apae ai ah na oh o duem nahaeloe, nangmacae palunghahaih ah om tih.
6Vậy, hãy nghe lời biện luận ta, Khá chăm chỉ về lẽ đối nại của miệng ta.
6Ka thuih han ih lok to tahngai oh loe, pahni hoiah ka thuih han ih lok hae tahngai oh.
7Có phải các ngươi dám nói lời bất công với Đức Chúa Trời chăng? Các ngươi há sẽ nói điều dối trá vì Ngài sao?
7Sithaw kasae na thuih o han maw? Anih to na ling o han maw?
8Các ngươi há muốn tây vị Đức Chúa Trời, Và cãi lẽ cho Ngài sao?
8Anih mikhmai maw na khet o han? Sithaw han lok na aek pae o han maw?
9Nếu Ngài dò xét lòng các ngươi, các ngươi vừa ý điều đó sao? Các ngươi há muốn phỉnh gạt Ngài như phỉnh gạt loài người sao?
9Anih mah ang khet o naah hoih, tiah thui tih maw? Kami aling baktiah Sithaw to aling thai maw?
10Quả thật Ngài sẽ trách phạt các ngươi. Nếu các ngươi lén tây vị người.
10Tamquta hoi mikhmai na khet o nahaeloe, anih mah na thuitaek o tih.
11Chớ thì sự oai nghi Ngài sẽ chẳng khiến các ngươi bối rối sao? Sự hoảng kinh Ngài há sẽ chẳng giáng trên các ngươi ư,
11A lensawkhaih loe nang han zitthok ai maw? Anih zit thohhaih na nuiah krah mak ai maw?
12Châm ngôn của các ngươi chỉ như châm ngôn tro bụi; Những thành lũy của các ngươi thật là thành lũy bùn đất,
12Nangcae panoek thaihaih loe maiphu baktiah ni oh, nangcae abuephaih ahmuen doeh long hoiah sak ih abuephaih ah ni oh.
13Vậy, hãy nín đi, khá lìa khỏi ta, để ta biện luận, Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì.
13Anghngai o duem ah, lok ka thuih han vop; to pacoengah kawbaktih hmuen doeh ka nuiah pha nasoe.
14Cớ sao ta lấy răng cắn thịt mình Và liều sanh mạng mình?
14Toe kai loe ka ngan hae kaek moe, ka hinghaih hae ban hoi ka sin han.
15Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài.
15Anih mah kai na hum cadoeh, a nuiah oephaih ka tawn vop tih; a hmaa ah zae loihhaih lok to ka thuih han vop.
16Chính điều đó sẽ là sự cứu rỗi ta; Vì một kẻ vô đạo chẳng được đến trước mặt Chúa.
16Anih loe kai pahlonghaih ah om tih; amoek kaminawk loe a hmaa ah angzo o mak ai.
17Hãy nghe kỹ càng các lời ta, Lời trần cáo ta khá lọt vào tai các ngươi!
17Ka lok hae palung tang hoi tahngai oh; ka thuih ih lok hae naa patueng oh.
18Kìa, ta đã bày tỏ việc cáo tụng ta, Ta biết ta sẽ được xưng công bình.
18Khenah, vaihi kaimah kawng taphong hanah ka oh coek, ka zaehaih loih tih boeh, tiah ka panoek.
19Có ai sẽ tranh luận với ta chăng? Ví bằng ta nín lặng, quả ta tắt hơi.
19Mi mah maw kai hae zaehaih net tang tih? To tiah zaehaih na net nahaeloe, lok apae ai ah kang hngai duem moe, ka duek halat han boeh.
20Có hai điều cầu xin Chúa chớ làm cho tôi, Thì tôi sẽ không ẩn mình tôi khỏi mặt Chúa:
20Hmuen hnetto khue ni kang hnik; nang paek nahaeloe na hmaa hoiah kang hawk ving mak ai.
21Xin Chúa rút tay Chúa khỏi mình tôi, Và sự hoảng kinh của Chúa chớ làm bối rối tôi nữa.
21Kai khae hoi na ban to azuk ving ah, na zitthohhaih hoiah na pazih hmah.
22Đoạn, hãy gọi tôi, tôi sẽ thưa lại, Hoặc tôi nói thì Chúa sẽ trả lời cho tôi.
22To pacoengah na kawk ah, kang pathim han; to tih ai boeh loe kai ka thuih hmaloe han, to pacoengah nang mah pathim ah.
23Số gian ác và tội lỗi tôi bao nhiêu? Cầu Chúa cho tôi biết sự phạm luật và tội lỗi tôi.
23Ka sakpazaehaih hoi zaehaih nazetto maw oh? Ka sakpazaehaih hoi ka zaehaih to na patuek ah.
24Nhân sao Chúa giấu mặt Chúa, Và cầm bằng tôi là kẻ cừu địch Chúa?
24Tipongah mikhmai na hawk moe, na misa ah nang suek loe?
25Chúa há muốn khiến kinh hãi chiếc lá bị gió đưa đi, Và đuổi theo cộng rạ khô sao?
25Takhi mah hmuh ih thingqam to na zit maw? Kangqo thingqam to na patom han maw?
26Vì Chúa làm cho tôi bị điều cay đắng, Và khiến cho tôi gánh các tội ác phạm lúc thanh niên,
26Kakhaa parai ka zaehaih to na pakuem moe, thendoeng nathuem ah ka sak ih zaehaih atho to vaihi kai han nang tongsak boeh.
27Đặt chân tôi trong xiềng tỏa, Xét các đường lối tôi, Và ghi ranh hạng chung quanh bước chân tôi,
27Ka khok ah thlong nang thuk moe, ka caehhaih loklamnawk boih to na khet; ka cawh ih khokkong doeh na parui boih.
28Còn tôi bị bể nát ra như vật mục, Như một cái áo bị sâu cắn nát vậy.
28To tiah raihaih tongh kami loe, kaqong hmuen baktih, karaa mah caak ih laihaw kaprawn baktiah, thazok moe, anghmat zuep boeh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.