Gióp 30
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.
1Toe vaihi loe kai pongah saning kanawk kaminawk mah ang pahnui o thuih, nihcae ampanawk loe ka panuet moe, tuutoep uinawk hoi nawnto suek han mataeng doeh ka koeh ai.
2Sức mạnh của họ đã hư bại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?
2Ue, nihcae ban thacakhaih loe kai han tidoeh avanghaih om ai, nihcae thacakhaih loe anghmat boih boeh.
3Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.
3Nihcae loe zok amthlam o pongah, minawk hoi angkom o ai; kami om ai angqai krang praezaek ah ni amhet o.
4Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.
4Kapring thungah phrohnawk to a aah o moe, caak hanah imphok kung tangzun to takaeh o.
5Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.
5Nihcae loe kaminawk ohhaih ahmuen hoiah haek o moe, (kamqu hangh thuih baktih hangh o thuih;)
6Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.
6tahawt thung ih cathaeng khaw thungah oh o moe, longkhaw thung hoi lungsong khaw thungah a oh o.
7Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.
7Kapring thungah hrang baktiah hangh o moe, soekhring thungah nawnto amkhueng o.
8Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.
8Nihcae loe kamthu caa ah oh o, ue, khosak kasae kaminawk ih caa ah oh o moe, prae thung hoi haek ih kaminawk ah oh o.
9Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.
9Vaihi loe nihcae mah laa ang sak o thuih; ue, nihcae mah kasae thuih ih kami ah ka oh boeh.
10Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.
10Nihcae mah ang panuet o moe, kangthla ah ang oh o taak; ka mikhmai tamtui hoi pathoih hanah tongaah o ai.
11Bởi vì Đức Chúa Trời đã làm dùn dây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.
11Sithaw mah kalii hoiah ang kah moe, ang pacaekthlaek pongah, ka hmaa ah angsumhaih tawn o ai boeh.
12Cái nố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chân tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.
12Ka bantang bangah thendoengnawk angthawk o moe, ka khok hae ang cawh o; kai amrohaih loklam to a sak o.
13Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.
13Ka loklam to phraek o moe, kai amtimh hanah azom o; nihcae bomhkung mi doeh om ai.
14Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.
14Nihcae loe kalen pui akhaw thungah kakun tui baktiah, kai amrosak hanah tha hoi kai khaeah ang cawnh o.
15Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Đuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.
15Zitthok hmuennawk to ka nuiah phak moe, takhi song baktiah ka hinghaih hnukah patom o; ka tawnh ih hmuenmae loe tamai baktiah anghmat boeh.
16Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,
16Vaihi ka palungthin koih boeh moe, patangkhanghaih aninawk mah ang naeh boeh.
17Đêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Đau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.
17Aqum mah ka huh hae thunh moe, thaqui kana ka pauep thai ai boeh.
18Vì cớ năng lực lớn của Đức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khít tôi lại như cổ áo tôi.
18Ka nathaih nung parai pongah, kaimah ih khubuen mah zaeng ih baktih toengah, ang zaeng caeng.
19Đức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.
19Anih mah tangnong thungah ang nuih, kai loe maiphu hoi tavai baktiah ni ka oh sut boeh.
20Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.
20Ka Angraeng Nang khaeah ka qah, toe nang pathim ai; kang doet tahang, toe tiah doeh nang sah ai.
21Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.
21Ka nuiah tahmenhaih na tawn ai; thacakhaih na ban hoiah nang pacaekthlaek.
22Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.
22Kai hae nang toengh tahang moe, takhi to nang thuengsak pongah, ka takpum hae nam rosak ving boeh.
23Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.
23Kahing kaminawk boih hanah na sak pae ih im hoi duekhaih thungah, nang caeh haih tih, tiah ka panoek.
24Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đang cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?
24Sithaw mah amrohaih phaksak hanah ban phok naah, nihcae mah tahmenhaih hni o langla cadoeh, atho om ai boeh.
25Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?
25Raihaih tongh kami to ka qah haih ai maw? Amtang kami palung ka sae haih ai maw?
26Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.
26Kahoih hmuen ka zing naah, kasae hmuen to angzoh; aanghaih ka zing naah, vinghaih to angzoh.
27Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.
27Kai ih pathin loe bet moe, anghakhaih om ai; patangkhanghaih aninawk loe kai tongh hanah angzoh o.
28Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.
28Niduem naah palungsethaih hoiah ka oh; kaminawk amkhuenghaih ahmuen ah kang doet moe, ka hang.
29Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.
29Kai loe pahui puinawk ih nawkamya ah ka oh moe, bukbuhnawk ih ampui ah ka oh.
30Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.
30Ka nganhin loe amnum moe, ka huhnawk doeh kabae thuih pa ai boeh.
31Vì cớ ấy, tiếng đàn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đàn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.
31Kai ih katoeng loe palungsethaih ah angcoeng boeh, kai ih tamoi doeh qahhaih lok ah ni angcoeng ving boeh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.