Gióp 30
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.
1[Nunc autem derident me juniores tempore, quorum non dignabar patres ponere cum canibus gregis mei:
2Sức mạnh của họ đã hư bại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?
2quorum virtus manuum mihi erat pro nihilo, et vita ipsa putabantur indigni:
3Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.
3egestate et fame steriles, qui rodebant in solitudine, squallentes calamitate et miseria.
4Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.
4Et mandebant herbas, et arborum cortices, et radix juniperorum erat cibus eorum:
5Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.
5qui de convallibus ista rapientes, cum singula reperissent, ad ea cum clamore currebant.
6Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.
6In desertis habitabant torrentium, et in cavernis terræ, vel super glaream:
7Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.
7qui inter hujuscemodi lætabantur, et esse sub sentibus delicias computabant:
8Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.
8filii stultorum et ignobilium, et in terra penitus non parentes.
9Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.
9Nunc in eorum canticum versus sum, et factus sum eis in proverbium.
10Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.
10Abominantur me, et longe fugiunt a me, et faciem meam conspuere non verentur.
11Bởi vì Đức Chúa Trời đã làm dùn dây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.
11Pharetram enim suam aperuit, et afflixit me, et frenum posuit in os meum.
12Cái nố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chân tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.
12Ad dexteram orientis calamitates meæ illico surrexerunt: pedes meos subverterunt, et oppresserunt quasi fluctibus semitis suis.
13Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.
13Dissipaverunt itinera mea; insidiati sunt mihi, et prævaluerunt: et non fuit qui ferret auxilium.
14Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.
14Quasi rupto muro, et aperta janua, irruerunt super me, et ad meas miserias devoluti sunt.
15Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Đuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.
15Redactus sum in nihilum: abstulisti quasi ventus desiderium meum, et velut nubes pertransiit salus mea.
16Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,
16Nunc autem in memetipso marcescit anima mea, et possident me dies afflictionis.
17Đêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Đau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.
17Nocte os meum perforatur doloribus, et qui me comedunt, non dormiunt.
18Vì cớ năng lực lớn của Đức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khít tôi lại như cổ áo tôi.
18In multitudine eorum consumitur vestimentum meum, et quasi capito tunicæ succinxerunt me.
19Đức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.
19Comparatus sum luto, et assimilatus sum favillæ et cineri.
20Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.
20Clamo ad te, et non exaudis me: sto, et non respicis me.
21Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.
21Mutatus es mihi in crudelem, et in duritia manus tuæ adversaris mihi.
22Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.
22Elevasti me, et quasi super ventum ponens; elisisti me valide.
23Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.
23Scio quia morti trades me, ubi constituta est domus omni viventi.
24Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đang cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?
24Verumtamen non ad consumptionem eorum emittis manum tuam: et si corruerint, ipse salvabis.
25Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?
25Flebam quondam super eo qui afflictus erat, et compatiebatur anima mea pauperi.
26Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.
26Expectabam bona, et venerunt mihi mala: præstolabar lucem, et eruperunt tenebræ.
27Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.
27Interiora mea efferbuerunt absque ulla requie: prævenerunt me dies afflictionis.
28Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.
28Mœrens incedebam sine furore; consurgens, in turba clamabam.
29Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.
29Frater fui draconum, et socius struthionum.
30Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.
30Cutis mea denigrata est super me, et ossa mea aruerunt præ caumate.
31Vì cớ ấy, tiếng đàn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đàn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.
31Versa est in luctum cithara mea, et organum meum in vocem flentium.]
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.