Gióp 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày, Bị đầy dẫy sự khốn khổ.
1[Homo natus de muliere, brevi vivens tempore, repletur multis miseriis.
2Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát; Người chạy qua như bóng, không ở lâu dài.
2Qui quasi flos egreditur et conteritur, et fugit velut umbra, et numquam in eodem statu permanet.
3Dầu vậy, Chúa còn để mắt trên người dường ấy, Và khiến tôi đến chịu Chúa xét đoán sao?
3Et dignum ducis super hujuscemodi aperire oculos tuos, et adducere eum tecum in judicium?
4Ai có thể từ sự ô uế mà lấy ra được điều thanh sạch? Chẳng một ai!
4Quis potest facere mundum de immundo conceptum semine? nonne tu qui solus es?
5Nếu các ngày của loài người đã định rồi, Nếu số tháng người ở nơi Chúa, Và Chúa đã định giới hạn cho người, mà người không qua khỏi được,
5Breves dies hominis sunt: numerus mensium ejus apud te est: constituisti terminos ejus, qui præteriri non poterunt.
6Thì xin Chúa hãy xây mắt Ngài khỏi người, để người đặng yên nghỉ, Cho đến khi mãn ngày mình như kẻ làm mướn vậy.
6Recede paululum ab eo, ut quiescat, donec optata veniat, sicut mercenarii, dies ejus.
7Vì cây cối dẫu bị đốn còn trông cậy Sẽ còn mọc lên nữa, Không thôi nức chồi.
7Lignum habet spem: si præcisum fuerit, rursum virescit, et rami ejus pullulant.
8Dẫu rễ nó già dưới đất, Thân nó chết trong bụi cát,
8Si senuerit in terra radix ejus, et in pulvere emortuus fuerit truncus illius,
9Vừa có hơi nước, nó sẽ mọc chồi, Và đâm nhành như một cây tơ;
9ad odorem aquæ germinabit, et faciet comam, quasi cum primum plantatum est.
10Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó, Loài người tắt hơi, thì đã đi đâu?
10Homo vero cum mortuus fuerit, et nudatus, atque consumptus, ubi, quæso, est?
11Nước hồ chảy mất đi, Sông cạn và khô:
11Quomodo si recedant aquæ de mari, et fluvius vacuefactus arescat:
12Cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chổi dậy: Người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, Và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình.
12sic homo, cum dormierit, non resurget: donec atteratur cælum, non evigilabit, nec consurget de somno suo.
13Oâi! Chớ gì Chúa giấu tôi nơi âm phủ, che khuất tôi cho đến khi cơn giận Chúa đã nguôi, Định cho tôi một kỳ hẹn, đoạn nhớ lại tôi!
13Quis mihi hoc tribuat, ut in inferno protegas me, et abscondas me donec pertranseat furor tuus, et constituas mihi tempus in quo recorderis mei?
14Nếu loài người chết, có được sống lại chăng! Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, Cho đến chừng tôi được buông thả,
14Putasne mortuus homo rursum vivat? cunctis diebus quibus nunc milito, expecto donec veniat immutatio mea.
15Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại; Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa;
15Vocabis me, et ego respondebo tibi: operi manuum tuarum porriges dexteram.
16Nhưng bây giờ, Chúa đếm các bước tôi, Chúa há chẳng xem xét các tội lỗi tôi sao?
16Tu quidem gressus meos dinumerasti: sed parce peccatis meis.
17Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, Và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại.
17Signasti quasi in sacculo delicta mea, sed curasti iniquitatem meam.
18Song núi lở tan thành ra bụi, Và hòn đá bị nhắc dời khỏi chổ nó.
18Mons cadens defluit, et saxum transfertur de loco suo:
19Nước làm mòn đá, Lụt trôi bụi đất: Cũng một thể ấy, Chúa hủy sự hy vọng của loài người.
19lapides excavant aquæ, et alluvione paulatim terra consumitur: et hominem ergo similiter perdes.
20Chúa hãm đánh và thắng hơn loài người luôn, đoạn nó đi qua mất; Chúa đổi sắc mặt nó, và đuổi nó đi.
20Roborasti eum paululum, ut in perpetuum transiret: immutabis faciem ejus, et emittes eum.
21Các con trai người được tôn trọng, còn người nào biết đến; Chúng bị hạ xuống, nhưng người cũng chẳng để ý vào.
21Sive nobiles fuerint filii ejus, sive ignobiles, non intelliget.
22Thịt người chỉ đau đớn vì một mình người, Và linh hồn người chỉ buồn rầu vì chính mình người mà thôi.
22Attamen caro ejus, dum vivet, dolebit, et anima illius super semetipso lugebit.]
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.