Gióp 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày, Bị đầy dẫy sự khốn khổ.
1L’homme né de la femme! Sa vie est courte, sans cesse agitée.
2Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát; Người chạy qua như bóng, không ở lâu dài.
2Il naît, il est coupé comme une fleur; Il fuit et disparaît comme une ombre.
3Dầu vậy, Chúa còn để mắt trên người dường ấy, Và khiến tôi đến chịu Chúa xét đoán sao?
3Et c’est sur lui que tu as l’œil ouvert! Et tu me fais aller en justice avec toi!
4Ai có thể từ sự ô uế mà lấy ra được điều thanh sạch? Chẳng một ai!
4Comment d’un être souillé sortira-t-il un homme pur? Il n’en peut sortir aucun.
5Nếu các ngày của loài người đã định rồi, Nếu số tháng người ở nơi Chúa, Và Chúa đã định giới hạn cho người, mà người không qua khỏi được,
5Si ses jours sont fixés, si tu as compté ses mois, Si tu en as marqué le terme qu’il ne saurait franchir,
6Thì xin Chúa hãy xây mắt Ngài khỏi người, để người đặng yên nghỉ, Cho đến khi mãn ngày mình như kẻ làm mướn vậy.
6Détourne de lui les regards, et donne-lui du relâche, Pour qu’il ait au moins la joie du mercenaire à la fin de sa journée.
7Vì cây cối dẫu bị đốn còn trông cậy Sẽ còn mọc lên nữa, Không thôi nức chồi.
7Un arbre a de l’espérance: Quand on le coupe, il repousse, Il produit encore des rejetons;
8Dẫu rễ nó già dưới đất, Thân nó chết trong bụi cát,
8Quand sa racine a vieilli dans la terre, Quand son tronc meurt dans la poussière,
9Vừa có hơi nước, nó sẽ mọc chồi, Và đâm nhành như một cây tơ;
9Il reverdit à l’approche de l’eau, Il pousse des branches comme une jeune plante.
10Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó, Loài người tắt hơi, thì đã đi đâu?
10Mais l’homme meurt, et il perd sa force; L’homme expire, et où est-il?
11Nước hồ chảy mất đi, Sông cạn và khô:
11Les eaux des lacs s’évanouissent, Les fleuves tarissent et se dessèchent;
12Cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chổi dậy: Người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, Và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình.
12Ainsi l’homme se couche et ne se relèvera plus, Il ne se réveillera pas tant que les cieux subsisteront, Il ne sortira pas de son sommeil.
13Oâi! Chớ gì Chúa giấu tôi nơi âm phủ, che khuất tôi cho đến khi cơn giận Chúa đã nguôi, Định cho tôi một kỳ hẹn, đoạn nhớ lại tôi!
13Oh! Si tu voulais me cacher dans le séjour des morts, M’y tenir à couvert jusqu’à ce que ta colère fût passée, Et me fixer un terme auquel tu te souviendras de moi!
14Nếu loài người chết, có được sống lại chăng! Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, Cho đến chừng tôi được buông thả,
14Si l’homme une fois mort pouvait revivre, J’aurais de l’espoir tout le temps de mes souffrances, Jusqu’à ce que mon état vînt à changer.
15Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại; Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa;
15Tu appellerais alors, et je te répondrais, Tu languirais après l’ouvrage de tes mains.
16Nhưng bây giờ, Chúa đếm các bước tôi, Chúa há chẳng xem xét các tội lỗi tôi sao?
16Mais aujourd’hui tu comptes mes pas, Tu as l’œil sur mes péchés;
17Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, Và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại.
17Mes transgressions sont scellées en un faisceau, Et tu imagines des iniquités à ma charge.
18Song núi lở tan thành ra bụi, Và hòn đá bị nhắc dời khỏi chổ nó.
18La montagne s’écroule et périt, Le rocher disparaît de sa place,
19Nước làm mòn đá, Lụt trôi bụi đất: Cũng một thể ấy, Chúa hủy sự hy vọng của loài người.
19La pierre est broyée par les eaux, Et la terre emportée par leur courant; Ainsi tu détruis l’espérance de l’homme.
20Chúa hãm đánh và thắng hơn loài người luôn, đoạn nó đi qua mất; Chúa đổi sắc mặt nó, và đuổi nó đi.
20Tu es sans cesse à l’assaillir, et il s’en va; Tu le défigures, puis tu le renvoies.
21Các con trai người được tôn trọng, còn người nào biết đến; Chúng bị hạ xuống, nhưng người cũng chẳng để ý vào.
21Que ses fils soient honorés, il n’en sait rien; Qu’ils soient dans l’abaissement, il l’ignore.
22Thịt người chỉ đau đớn vì một mình người, Và linh hồn người chỉ buồn rầu vì chính mình người mà thôi.
22C’est pour lui seul qu’il éprouve de la douleur en son corps, C’est pour lui seul qu’il ressent de la tristesse en son âme.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.