Gióp
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Louis Segond 1910
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Xô-pha, người Na-a-ma, bèn đáp rằng:
1Tsophar de Naama prit la parole et dit:
2Vì cớ ấy tư tưởng tôi chỉ dạy cho tôi lời đáp, Và tại lời đó, tâm thần tôi bị cảm động trong mình tôi.
2Mes pensées me forcent à répondre, Et mon agitation ne peut se contenir.
3Tôi đã nghe lời trách móc làm hổ thẹn tôi; Trí khôn tôi lấy sự thông minh mà đáp lời.
3J’ai entendu des reproches qui m’outragent; Le souffle de mon intelligence donnera la réplique.
4Hãy biết rõ rằng, từ đời xưa, Từ khi loài người được đặt nơi thế gian,
4Ne sais-tu pas que, de tout temps, Depuis que l’homme a été placé sur la terre,
5Thì sự thắng hơn của kẻ ác không có lâu, Và sự vui mừng của kẻ vô đạo chỉ một lúc mà thôi.
5Le triomphe des méchants a été court, Et la joie de l’impie momentanée?
6Dầu sự kiêu căng nó cất lên đến tận trời, Dầu cho đầu nó đụng chí mây,
6Quand il s’élèverait jusqu’aux cieux, Et que sa tête toucherait aux nues,
7Thì nó sẽ bị tiêu diệt đời đời như phân bón nó; Những người đã thấy nó sẽ hỏi rằng: Nó ở đâu?
7Il périra pour toujours comme son ordure, Et ceux qui le voyaient diront: Où est-il?
8Nó bay đi như một cơn chiêm bao, không ai gặp nó lại; Thật, nó sẽ biết mất như dị tượng ban đêm.
8Il s’envolera comme un songe, et on ne le trouvera plus; Il disparaîtra comme une vision nocturne;
9Con mắt đã thường xem nó, sẽ không thấy nó lại, Nơi nó ở cũng sẽ chẳng còn nhìn nó nữa.
9L’œil qui le regardait ne le regardera plus, Le lieu qu’il habitait ne l’apercevra plus.
10Con cái nó sẽ cầu ơn kẻ nghèo, Và tay nó sẽ thường lại tài sản mà sự hung bạo nó đã cướp giựt.
10Ses fils seront assaillis par les pauvres, Et ses mains restitueront ce qu’il a pris par violence.
11Tứ chi nó đầy sức lực của buổi đang thì; Nhưng sẽ nằm chung với nó trong bụi đất;
11La vigueur de la jeunesse, qui remplissait ses membres, Aura sa couche avec lui dans la poussière.
12Dẫu sự ác lấy làm ngọt ngào cho miệng nó, Dẫu ẩn dưới lưỡi hắn,
12Le mal était doux à sa bouche, Il le cachait sous sa langue,
13Dẫu hắn tríu mến sự ác, không từ bỏ nó, Nhưng giữ nó lại trong miệng mình,
13Il le savourait sans l’abandonner, Il le retenait au milieu de son palais;
14Thì vật thực nó sẽ biến nơi can tràng, Và thành ra mật rắn hổ trong bụng nó.
14Mais sa nourriture se transformera dans ses entrailles, Elle deviendra dans son corps un venin d’aspic.
15Nó có nuốt của cải, rồi lại mửa ra; Đức chúa Trời sẽ tống của ấy ra khỏi bụng nó.
15Il a englouti des richesses, il les vomira; Dieu les chassera de son ventre.
16Nó sẽ mút nọc rắn hổ; Lưỡi của rắn lục sẽ giết nó.
16Il a sucé du venin d’aspic, La langue de la vipère le tuera.
17Nó sẽ chẳng thấy sông và dòng chảy mật cùng mỡ sữa ra.
17Il ne reposera plus ses regards sur les ruisseaux, Sur les torrents, sur les fleuves de miel et de lait.
18Nó phải trả hoa lợi về công việc mình, không được nuốt nó; Phải thường lại tùy theo giá nó, Không được hưởng của ấy.
18Il rendra ce qu’il a gagné, et n’en profitera plus; Il restituera tout ce qu’il a pris, et n’en jouira plus.
19Vì nó có hà hiếp, bỏ bê kẻ nghèo, Cướp lấy nhà cửa, mà nó không có xây cất.
19Car il a opprimé, délaissé les pauvres, Il a ruiné des maisons et ne les a pas rétablies.
20Bởi vì nó không biết an tịnh trong mình, Nó sẽ chẳng được bảo thủ gì về các điều mình ưa thích hơn hết.
20Son avidité n’a point connu de bornes; Mais il ne sauvera pas ce qu’il avait de plus cher.
21Chẳng chi thoát khỏi sự mê ăn của nó; Cho nên sự may mắn nó chẳng bền lâu.
21Rien n’échappait à sa voracité; Mais son bien-être ne durera pas.
22Đang khi dư dật, nó sẽ bị cùng túng; Các người khốn khổ sẽ tra tay vào mình nó.
22Au milieu de l’abondance il sera dans la détresse; La main de tous les misérables se lèvera sur lui.
23Đức Chúa Trời sẽ sai thạnh nộ Ngài hãm mình nó, Đặng làm cho lòng nó đầy dẫy, Ngài sẽ giáng cơn giận Ngài trên mình nó, chính trong lúc nó ăn bữa.
23Et voici, pour lui remplir le ventre, Dieu enverra sur lui le feu de sa colère, Et le rassasiera par une pluie de traits.
24Nó sẽ trốn lánh khỏi khí giới sắt, Còn cây cung đồng sẽ xoi lũng nó.
24S’il échappe aux armes de fer, L’arc d’airain le transpercera.
25Nó nhổ tên ra khỏi thân nó, Mũi gươm bóng ngời rút ra khỏi gan nó; Các sự kinh khiếp hãm áp nó.
25Il arrache de son corps le trait, Qui étincelle au sortir de ses entrailles, Et il est en proie aux terreurs de la mort.
26Cả sự tối tăm đã dành làm bửu vật cho nó; Lửa người ta không thổi sẽ thiêu đốt nó, Và kẻ còn sót lại trong trại nó sẽ bị tiêu diệt đi.
26Toutes les calamités sont réservées à ses trésors; Il sera consumé par un feu que n’allumera point l’homme, Et ce qui restera dans sa tente en deviendra la pâture.
27Các từng trời sẽ bày tỏ gian ác nó ra, Và đất sẽ dấy lên nghịch cùng nó.
27Les cieux dévoileront son iniquité, Et la terre s’élèvera contre lui.
28Hoa lợi của nhà nó sẽ bị đem đi mất, Tài sản nó sẽ bị trôi đi trong ngày thạnh nộ của Chúa.
28Les revenus de sa maison seront emportés, Ils disparaîtront au jour de la colère de Dieu.
29Đó là phần mà Đức Chúa Trời dành cho kẻ hung ác, Và ấy là cơ nghiệp mà Ngài định cho nó.
29Telle est la part que Dieu réserve au méchant, Tel est l’héritage que Dieu lui destine.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.