Gióp
Chapter 14
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày, Bị đầy dẫy sự khốn khổ.
1З жінки родиться чоловік, і короткий вік свій у журбі проводить;
2Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát; Người chạy qua như bóng, không ở lâu dài.
2Квіткою він виходить та й поникає; тїнню пробігає й не зупиняєсь.
3Dầu vậy, Chúa còn để mắt trên người dường ấy, Và khiến tôi đến chịu Chúa xét đoán sao?
3І на такого ти отвираєш очі твої, і зовеш мене на суд із тобою?
4Ai có thể từ sự ô uế mà lấy ra được điều thanh sạch? Chẳng một ai!
4Хто з нечистого може чистим родитись? Анї один.
5Nếu các ngày của loài người đã định rồi, Nếu số tháng người ở nơi Chúa, Và Chúa đã định giới hạn cho người, mà người không qua khỏi được,
5Коли ж йому днї визначені, й число місяцїв його в тебе, коли ти назначив йому гряницю, що її не переступить,
6Thì xin Chúa hãy xây mắt Ngài khỏi người, để người đặng yên nghỉ, Cho đến khi mãn ngày mình như kẻ làm mướn vậy.
6То відступи від його, так, позирни куди геть, нехай він одпочине, покіль, як той поденщик, не скінчить дня свого.
7Vì cây cối dẫu bị đốn còn trông cậy Sẽ còn mọc lên nữa, Không thôi nức chồi.
7Дереву є хоч надїя, що воно, й зрубане, знов одродиться, й пагонцї з його одростати не перестануть;
8Dẫu rễ nó già dưới đất, Thân nó chết trong bụi cát,
8Та хоч його корінь в землї й перетрюхне й пень його завмре в поросї,
9Vừa có hơi nước, nó sẽ mọc chồi, Và đâm nhành như một cây tơ;
9Але, як тільки почує воду, воно пустить паростки й поросте галуззєм, наче б новопосаджене; —
10Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó, Loài người tắt hơi, thì đã đi đâu?
10А чоловік, як умре, розпадає ся; відойшов, і де він подївся?
11Nước hồ chảy mất đi, Sông cạn và khô:
11Води зникають із озера, й ріка посякає й висихає:
12Cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chổi dậy: Người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, Và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình.
12Так і людина ляже й не встане; покіль конець небесам, не пробудиться й не підоймесь із сну свого.
13Oâi! Chớ gì Chúa giấu tôi nơi âm phủ, che khuất tôi cho đến khi cơn giận Chúa đã nguôi, Định cho tôi một kỳ hẹn, đoạn nhớ lại tôi!
13О, коли б ти да сховав мене в преисподнїй і там держав мене, аж покіль гнїв твій перейде, й положив реченець, і спогадав знов про мене!
14Nếu loài người chết, có được sống lại chăng! Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, Cho đến chừng tôi được buông thả,
14Засне людина, та чи знов оживе ж коли небудь? Через усї днї визначеного менї часу дожидав би я, покіль прийшла б менї зміна.
15Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại; Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa;
15Ти кликнув би, а я дав би відповідь тобі, й ти подав би ласку твору рук твоїх;
16Nhưng bây giờ, Chúa đếm các bước tôi, Chúa há chẳng xem xét các tội lỗi tôi sao?
16Бо тодї ти лїчив би кроки мої, та не підстерігав би гріха мого;
17Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, Và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại.
17Ти б запечатав тодї переступ мій, й провину мою закрив би.
18Song núi lở tan thành ra bụi, Và hòn đá bị nhắc dời khỏi chổ nó.
18Та як гора, падаючи, розсипається, й скала сходить з місця свого;
19Nước làm mòn đá, Lụt trôi bụi đất: Cũng một thể ấy, Chúa hủy sự hy vọng của loài người.
19Як вода стирає каміннє, а розлив її змиває пил земний, так і надїю людську ти в нїщо обертаєш.
20Chúa hãm đánh và thắng hơn loài người luôn, đoạn nó đi qua mất; Chúa đổi sắc mặt nó, và đuổi nó đi.
20Ти тїсниш його до кінця; змінюєш вид його й відсилаєш.
21Các con trai người được tôn trọng, còn người nào biết đến; Chúng bị hạ xuống, nhưng người cũng chẳng để ý vào.
21Честь його дїтям, чи нї, він того не знає, понижені вони — йому те байдуже;
22Thịt người chỉ đau đớn vì một mình người, Và linh hồn người chỉ buồn rầu vì chính mình người mà thôi.
22Та (покіль жив,) тїло його на йому болестї чує, а душа його в йому в страданнях сумує.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.