Gióp 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Nhân vì Đấng Toàn năng đã định kỳ phạt ác, Cớ sao Ngài không khiến kẻ nhận biết Ngài được thấy ngày ấy?
1Чому перед Вседержителем не закриті часи (відплати), а хто шанує його, чом не знає про ті днї його?
2Có người dời sụt mộc giới, Aên cắp bầy chiên, rồi dẫn cho ăn.
2Межі пересувають, займають отари та й гонять пасти, мовляв би, свої;
3Chúng cướp dẫn lừa của kẻ mồ côi, Lấy bò của người góa bụa làm của cầm.
3Граблять осла в сиротини, у вдовицї беруть в заклад корову єдину;
4Chúng khiến kẻ nghèo lìa bỏ đường chánh đáng, Kẻ khốn cùng của thế gian đồng nhau đi ẩn tránh.
4Вбогих спихають з путя, пригноблені всї мусять ховатись.
5Kìa, vừa sớm mai chúng đi ra làm công việc mình, Tìm lương thực mình, như lừa rừng nơi đồng vắng; Đồng vắng cấp thực vật cho con cái chúng nó.
5Се, — як осли дикі в степу, виходять вони на свою роботу, вставши рано, на здобуваннє (харчі); степ їх годує й дїтей їх;
6Chúng nó thâu góp rơm cỏ tại trong đồng ruộng, Mót trái nho trong vườn nho của kẻ làm ác.
6Жнуть вони на полі чужому й збирають виноград у придавлених;
7Trọn đêm chúng nó nằm trần truồng không quần áo, Và chẳng có mền đắp khỏi lạnh.
7Нагі ночують люде, не маючи чим одягтися, нї вкритись на студенї;
8Chúng nó bị dầm mưa núi, Không nơi đụt, bèn nép mình vào hòn đá.
8Мокнуть на дощах з гори, туляться попід скелями.
9Có người cướp kẻ mồ côi cha còn bú; Bắt thế chưng áo trên mình kẻ nghèo;
9Рвуть вони од грудей сироту, вбогих закладами граблять.
10Đến đỗi người nghèo phải đi trần không áo, Vác những bó lúa, mà bị đói.
10Вони змушують їх блукати нагими, без одежі, й голодних — годуватись (збіраним) колоссєм;
11Chúng ép dầu trong kho chủ mình, Đạp trái nho nơi thùng, mà bị khát.
11Між мурами бють (нещасні) олїй про них, топчуть (грозди) в точилї, та й смагу терплять.
12Từ trong thành nổi lên tiếng thở than của người ta, Linh hồn kẻ bị thương kêu van; Song Đức Chúa Trời không kể đến tội ác vẫn phạm tại đó.
12У містї стогнуть люде, душа гублена квилить, а Бог сього не боронить.
13Cũng có kẻ khác thù nghịch với ánh sáng; Không biết đạo của ánh sáng, Và chẳng đi trong con đường nó.
13Є між ними й вороги сьвітла, що не знають шляхів його, й не ходять стежками його.
14Vừa rạng ngày kẻ giết người chổi dậy, Giết kẻ nghèo khổ và túng cùng; Còn ban đêm nó như kẻ trộm.
14Досьвіта встає убийник, вбиває бідного й нужденного, а ніччю стає злодїєм.
15Mắt kẻ hành dâm cũng trông ngóng khi chập tối, Mà nói rằng: “Chẳng một mắt ai sẽ thấy tôi”, Và nó che kín mặt mình.
15Темряви й те око жде, що до перелюбок ласе; говорить: нїхто не побачить мене, — та й вид собі закриває.
16Đang đêm tối tăm chúng nó khoét nhà, Ban ngày lại rút ẩn mất; Chúng nó chẳng biết ánh sáng.
16В пітьмі підкопуються в доми, що по днинї собі їх запримітили; сьвітла вони не хотять знати.
17Buổi sáng vốn là bóng chết cho chúng nó thay thảy, Vì chúng nó biết sự kinh hãi về bóng sự chết,
17Бо густа тьма — се їх ранок, із мороком дружні вони, люба їм пітьма да страхи.
18Chúng nó qua chong chóng như vật nhẹ trôi nơi mặt nước; Phần nghiệp họ bị rủa sả tại trên đất; Chẳng còn trở về lối vườn nho nữa.
18Такий є легкий собі — хоч би й поверх води. О, проклята доля його на землї! Нехай і не бачить дороги садів виноградних!
19Sự khô hạn và sự nắng tiêu tan nước tuyết đi; âm phủ cũng làm như vậy cho những kẻ có tội.
19Посуха й спеки пожирають, хоч би й снїжну воду; оттак безодня — грішників.
20Lòng mẹ sẽ quên chúng nó đi; Các sâu bọ ăn ngon chúng nó; Người ta không còn nhớ họ nữa; Và sự gian ác sẽ bị bẻ gẫy ra như cây cối.
20Нехай відцурається такого матерня рідна утроба; нехай лакомляться на нього черви; нехай загине про його память; мов та деревина, нехай зломиться беззаконник!
21Chúng nó cướp giựt người đàn bà son sẻ, không sanh con, Chẳng làm điều lành cho người góa bụa.
21Він гнобить бездїтну, що не роджала дитини, й вдовицї не чинить добра.
22Song Đức Chúa Trời lấy quyền năng Ngài mà bảo toàn người thế lực; Ngài đỡ lên kẻ hết trông được bảo tồn mạng sống mình.
22Він і дужих перемогає силою своєю; він устає, і нїхто не певний життя свого.
23Đức Chúa Trời ban cho chúng sự vững vàng, chúng nương cậy nơi sự ấy; Nhưng con mắt Ngài coi chừng đường lối của chúng.
23А Бог подає йому безпеку, — він же ж на те й вповає — та очі його (Бога) видять таких поступки.
24Chúng được cao trọng; đoạn một ít lâu, chẳng còn nữa. Chúng ngã xuống, bị cất đem đi như mọi người khác; Họ bị cắt như ngọn gié lúa vậy.
24Піднялись вони високо, — та ось і нема їх; падають і вмірають, як кожний на сьвітї, й неначе колоссє, стинаються.
25Nếu điều đó chẳng vậy, ai bắt lẽ tôi nói dối, Và diệt lời giảng luận tôi ra hư không?
25А коли се не так, то хто мою льжу докаже, й в нїщо оберне мову мою?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.