Gióp
Chapter 24
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nhân vì Đấng Toàn năng đã định kỳ phạt ác, Cớ sao Ngài không khiến kẻ nhận biết Ngài được thấy ngày ấy?
1Tipongah Thacak Sithaw mah lokcaekhaih atue to khaek ai loe? Anih panoek kaminawk mah anih lokcaekhaih ani to panoek o ai maw?
2Có người dời sụt mộc giới, Aên cắp bầy chiên, rồi dẫn cho ăn.
2Thoemto kaminawk loe ramri to tahruet o; minawk ih tuunawk to a lomh pae o moe, angmacae hanah pacah o.
3Chúng cướp dẫn lừa của kẻ mồ côi, Lấy bò của người góa bụa làm của cầm.
3Naqahnawk ih laa hrang to huih pae o ving moe, lamhmai ih maitaw tae to paawng ih hmuen baktiah lak pae o ving.
4Chúng khiến kẻ nghèo lìa bỏ đường chánh đáng, Kẻ khốn cùng của thế gian đồng nhau đi ẩn tránh.
4Caaknaek tawn ai kaminawk to loklam amkhraeng o sak, long ah kaom amtang kaminawk loe nawnto anghawk o.
5Kìa, vừa sớm mai chúng đi ra làm công việc mình, Tìm lương thực mình, như lừa rừng nơi đồng vắng; Đồng vắng cấp thực vật cho con cái chúng nó.
5Khenah, amtang kaminawk loe toksak hanah taw ih laa hrangnawk baktiah a caeh o; khawnthaw ah caeh o moe, angmacae hoi a caanawk hanah taw ah caaknaek pakrong o.
6Chúng nó thâu góp rơm cỏ tại trong đồng ruộng, Mót trái nho trong vườn nho của kẻ làm ác.
6Nihcae loe lawk ah cang aah o moe, kahoih ai kaminawk ih misur thaih to pakhrik pae o.
7Trọn đêm chúng nó nằm trần truồng không quần áo, Và chẳng có mền đắp khỏi lạnh.
7Nihcae loe khukbuen tawn o ai, bangkrai ah iih o; angqai naah angkhuk hanah tawn o ai.
8Chúng nó bị dầm mưa núi, Không nơi đụt, bèn nép mình vào hòn đá.
8Mae ih khotui mah nihcae to bawh moe, abuephaih tawn o ai pongah, lungsong to takop o.
9Có người cướp kẻ mồ côi cha còn bú; Bắt thế chưng áo trên mình kẻ nghèo;
9Amno ih tahnutui kanae ampa tawn ai nawkta to a lak pae o, amtang kaminawk to hmuenmae paawng o sak.
10Đến đỗi người nghèo phải đi trần không áo, Vác những bó lúa, mà bị đói.
10Nihcae to khukbuen tawn ai bangkrai ah caeh o sak moe, zok amthlam kami ih cangqui to lomh pae o ving;
11Chúng ép dầu trong kho chủ mình, Đạp trái nho nơi thùng, mà bị khát.
11nihcae loe lawk ah olive tui pasawh o, misurtui doeh pasawh o; toe tui anghaehhaih hoiah patangkhang o.
12Từ trong thành nổi lên tiếng thở than của người ta, Linh hồn kẻ bị thương kêu van; Song Đức Chúa Trời không kể đến tội ác vẫn phạm tại đó.
12Vangpui thung hoiah kaminawk hanghaih lok to tacawt, ahmaa kacaa kaminawk loe tahmen hnikhaih hoiah hangh o; toe nihcae tahmen hnikhaih to Sithaw mah tidoeh sah pae ai.
13Cũng có kẻ khác thù nghịch với ánh sáng; Không biết đạo của ánh sáng, Và chẳng đi trong con đường nó.
13Nihcae loe aanghaih lokaek kaminawk ah oh o; nihcae loe aanghaih loklam to panoek o ai, to loklam doeh pazui o ai.
14Vừa rạng ngày kẻ giết người chổi dậy, Giết kẻ nghèo khổ và túng cùng; Còn ban đêm nó như kẻ trộm.
14Kami humnawk loe khawnthaw ah angthawk o moe, caaknaek tawn ai kami hoi amtang kaminawk to hum o pacoengah, aqum ah hmuenmae to paquk o.
15Mắt kẻ hành dâm cũng trông ngóng khi chập tối, Mà nói rằng: “Chẳng một mắt ai sẽ thấy tôi”, Và nó che kín mặt mình.
15Zu sava laep ah zaehaih sak koeh kami loe khoving to a zing kongh, a mikhmai to khuk khoep, mi mah doeh na hnu mak ai, tiah a poek.
16Đang đêm tối tăm chúng nó khoét nhà, Ban ngày lại rút ẩn mất; Chúng nó chẳng biết ánh sáng.
16Nihcae loe khoving ah minawk ih im to muk o, khodai ah loe imthung ah anghawk o; aanghaih to panoek o ai.
17Buổi sáng vốn là bóng chết cho chúng nó thay thảy, Vì chúng nó biết sự kinh hãi về bóng sự chết,
17Khoving loe nihcae ih ampui ah oh pongah, khodai loe nihcae han duekhaih tahlip ah oh pae lat.
18Chúng nó qua chong chóng như vật nhẹ trôi nơi mặt nước; Phần nghiệp họ bị rủa sả tại trên đất; Chẳng còn trở về lối vườn nho nữa.
18To baktih kahoih ai kaminawk loe tui nui ih kakhoem tui apoep baktiah ni oh o; long tahamsethaih loe nihcae ih taham ah oh; to pongah misur takha caehhaih lam taengah mi doeh caeh ai boeh.
19Sự khô hạn và sự nắng tiêu tan nước tuyết đi; âm phủ cũng làm như vậy cho những kẻ có tội.
19Ni kabae hoi khokhaahaih mah dantui amkawsak baktih toengah, taprong mah kazae kaminawk to amrosak.
20Lòng mẹ sẽ quên chúng nó đi; Các sâu bọ ăn ngon chúng nó; Người ta không còn nhớ họ nữa; Và sự gian ác sẽ bị bẻ gẫy ra như cây cối.
20Zok mah anih to pahnet ueloe, sadong mah anih to rawkcak kahoih ah caa tih; anih to mi mah doeh panoek mak ai boeh; sethaih loe thing baktiah hmawn tih boeh.
21Chúng nó cướp giựt người đàn bà son sẻ, không sanh con, Chẳng làm điều lành cho người góa bụa.
21Kahoih ai kami loe caa kaak nongpata to pakrong, lamhmai tahmenhaih doeh tawn ai.
22Song Đức Chúa Trời lấy quyền năng Ngài mà bảo toàn người thế lực; Ngài đỡ lên kẻ hết trông được bảo tồn mạng sống mình.
22Thacak kami to Sithaw mah a thacakhaih hoiah amrosak; nihcae thacak naah, kaminawk khosak monghaih tawn o ai.
23Đức Chúa Trời ban cho chúng sự vững vàng, chúng nương cậy nơi sự ấy; Nhưng con mắt Ngài coi chừng đường lối của chúng.
23Sithaw mah anih to kamongah omsak doeh om tih; toe Angraeng mah a caehhaih loklam to khet parui pae.
24Chúng được cao trọng; đoạn một ít lâu, chẳng còn nữa. Chúng ngã xuống, bị cất đem đi như mọi người khác; Họ bị cắt như ngọn gié lúa vậy.
24Nawnetta thungah ni kasang ah pakoeh o, to pacoengah loe anghmat o boih; atlim ah zaeh tathuk moe, minawk kalah baktiah hinghaih to lak pae pacoengah, cangqui baktiah khaeh o.
25Nếu điều đó chẳng vậy, ai bắt lẽ tôi nói dối, Và diệt lời giảng luận tôi ra hư không?
25Vaihi hae tiah om ai nahaeloe, ka thuih ih lok loe amsawn ni, avanghaih tidoeh om ai, tiah mi mah maw amtuengsak thai tih? tiah a thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.