Giu-đe 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Giu-đe, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ và em Gia-cơ, đạt cho những kẻ đã được kêu gọi, được Đức Chúa Trời, là Cha yêu thương, và được Đức Chúa Jêsus Christ giữ gìn:
1Ampa Sithaw mah ciimcaisak ih, Jesu Kri mah pakuem moe, kawk ih kaminawk khaeah, Jesu Kri tamna ah kaom, Jakob ih amnawk, Juda mah tarik:
2nguyền xin sự thương xót, bình an, yêu mến thêm lên cho anh em!
2palungnathaih, monghaih hoi amlunghaih nangcae khaeah pung nasoe.
3Hỡi kẻ rất yêu dấu, vì tôi đã ân cần viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta, tôi tưởng phải làm điều đó, để khuyên anh em vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi.
3Palung ih kaminawk, kami boih han kaom pahlonghaih kawng nangcae khaeah tarik moe, paek hanah tha ka pathok, toe kaciim kaminawk khaeah vaito kakhawt ah paek ih tanghaih to na pakaa o hanah ca tarik han angaih, tiah ka poek.
4Vì có mấy kẻ kia lẻn vào trong vòng chúng ta là những kẻ bị định đoán phạt từ lâu rồi, kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác, chối Đấng Chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.
4Lokcaek hanah canghni hoi pahoe coek ih Sithaw panoek ai thoemto kaminawk loe, tamquta hoi akun o moe, aicae Sithaw tahmenhaih to nongpata nongpa zaehaih bangah paqoi o ving, maeto khue kaom Angraeng Sithaw hoi aicae Angraeng Jesu Kri to tapom han koeh o ai.
5Dầu Anh em đã học những điều nầy rồi, tôi cũng muốn nhắc lại cho anh em rằng, xưa kia Chúa giải cứu dân mình ra khỏi xứ Ê-díp-tô, sau lại tiêu diệt những kẻ không tin;
5Angraeng mah angmah ih kaminawk to Izip prae thung hoiah pahlong, toe anih mah hnukkhuem ah tang ai kaminawk to hum, tiah kaom hmuen kawng hae na panoek o boih boeh e, panoeksak let han ka koeh.
6còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình thì Ngài đã dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn.
6Hmaloe koekah angmacae angdoethaih ahmuen ah kaom poe ai, angmacae ohhaih ahmuen caehtaak vankaminawk to, kalen parai niah lokcaek hanah Anih mah sumqui hoi dungzan ah pathlet moe, khoving thungah suek boeh.
7Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận cũng buông theo sự dâm dục và sắc lạ, thì đã chịu hình phạt bằng lửa đời đời, làm gương để trước mặt chúng ta.
7To baktih toengah, Sodom hoi Gomorrah taeng ih vangpuinawk doeh, nongpa nongpata zae sakhaih bangah ang paek o moe, angmacae zu sava na ai kalah kaminawk hoiah zaehaih a sak o pongah, khet koi kaom ah dungzan hmai hoiah lokcaekhaih to a tongh o.
8Nhưng mà chúng nó cũng như vậy, trong giấc mơ màng làm ô uế xác thịt mình, khinh dể quyền phép rất cao và nói hỗn các đấng tôn trọng.
8To baktih toengah hae tiah amaang sah kaminawk mah doeh angmacae ih takpum to panuet kaom ah a sak o, ukhaih to pahnawt o ai, ukhaih kaa tawn kaminawk to kasae a thuih o.
9Vả, khi chính mình thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỉ giành xác Môi-se, còn chẳng dám lấy lời nhiếc móc mà đoán phạt; người chỉ nói rằng: Cầu Chúa phạt ngươi!
9Toe kalen koek van kami Mikal mah mataeng doeh, Setan hoiah Mosi ih takpum anglomh hoi naah, anih to kasae thuih han zit pongah, Angraeng mah na thuitaek nasoe, tiah a naa.
10Song những kẻ nầy, hễ đều gì không biết thì khinh dể hết; và mọi điều chúng nó tự nhiên mà biết cũng như con thú vật vô tri, thì dùng mà làm hư mình.
10Toe hae kaminawk mah loe nihcae mah panoek ai ih hmuennawk to kasae thuih o: moi kasan baktiah angmacae mah panoek o ih hmuennawk hoiah angmacae to amrosak.
11Khốn nạn thay cho chúng nó, vì đã theo đường của Ca-in, lấy lòng tham lợi mà gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am; và bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê.
11Khosak na bing o! Nihcae loe Kain ih loklam ni pazui o boeh, amekhaih hnuk han koeh o pongah Balaam sakpazaehaih thungah akun o moe, Kore lokaekhaih thungah amro o boih boeh.
12Những kẻ đó là dấu vít trong đám tiệc anh em, như người chăn chiên chỉ tưởng nuôi mình cho no nê, không lo sợ gì; như đám mây không nước, theo gió đưa đi đây đi đó, như cây tàn mùa thu, không có trái, hai lần chết, trốc lên bựt rễ;
12To kaminawk loe na koeh o ih poihkung ah, nangcae hoi nawnto buhcaak naah, azathaih tawn ai ah angmacae koeh karoek to buh to a caak o: nihcae loe takhi mah koeh baktiah hmuh ih, khotui kaom ai tamainawk baktiah ni oh o; athaih athai ai, akung kazaem, vai hnetto kadueh, tangzun hoi aphong ih thingkung baktih;
13như sóng cuồng dưới biển, sôi bọt ô uế của mình; như sao đi lạc, sự tối tăm mù mịt đã dành cho chúng nó đời đời!
13kangphui tuipui tuiphunawk baktiah angmacae azathaih to amtueng o sak, dungzan ah khoving tahmuep loe kazawk cakaeh ah kaom nihcae hanah pahoe pae boeh.
14Aáy cũng vì họ mà Hê-nóc, là tổ bảy đời kể từ A-đam, đã nói tiên tri rằng:
14Adam hoi sarihto haih ah kaom Enok mah, Khenah, Angraeng loe angmah ih kaciim kami sang hato hoi nawnto angzo ueloe,
15Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài.
15kaminawk boih lokcaek tih, Sithaw panoek ai kaminawk boih mah a sak o ih zaehaih baktih, sethaih kawng kathui kazae kaminawk mah Anih kasae thuih o ih zaehaih baktih toengah lokcaek boih tih.
16Aáy đều là những kẻ hay lằm bằm, hay phàn nàn luôn về số phận mình, làm theo sự ham muốn mình, miệng đầy những lời kiêu căng, và vì lợi mà nịnh hót người ta.
16To kaminawk loe laisaep thaih kami, kasae thui thaih kami, angmacae taksa koehhaih baktiah caeh kami ah oh o; nihcae loe amoekhaih lokthui kami, angmacae amekhaih hnuk hanah minawk pahlaw thaih kami ah oh o.
17Nhưng anh em, là kẻ rất yêu dấu, hãy nhớ lấy những lời mà các sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã nói trước.
17Toe palung ih kaminawk, Aicae Angraeng Jesu Kri mah patoeh ih kami ah kaom kaminawk mah ang thuih o ih lok to panoek oh;
18Các sứ đồ đó nói với anh em rằng, trong các thời k” sau rốt, sẽ có mấy người hay nhạo báng làm theo lòng ham muốn không tin kính của mình.
18nihcae mah nangcae khaeah, Hnukkhuem niah loe, Sithaw koehhaih na ai ah, angmacae taksa koehhaih bangah caeh kaminawk hoi minawk kasae thuih koeh kaminawk to angzo o tih, tiah ang thuih o boeh.
19Aáy chính chúng nó là kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh.
19Nihcae loe nangcae tapraek kami, long taksa koehhaih patom kami, Muithla tawn ai kami ah oh o.
20Hỡi kẻ rất yêu dấu, về phần anh em, hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhân Đức Thánh Linh mà cầu nguyện,
20Toe palung ih kaminawk, Nangcae loe paroeai ciimcai tanghaih ah qoeng o tahang ah loe, Ciimcai Muithla ah lawkthui oh.
21hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.
21Nangcae loe Sithaw amlunghaih ah om oh loe, dungzan hing hanah aicae Angraeng Jesu Kri palungnathaih to khen oh.
22Hãy trách phạt những kẻ nầy, là kẻ trù trừ,
22Pathlaeng thaihaih tawn oh loe, thoemto kaminawk tahmenhaih palungthin to tawn oh:
23hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.
23taksa zaehaih kakap khukbuen to hnuma oh, zithaih palungthin hoiah thoemto kaminawk to hmai thung hoiah pahlong oh.
24Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được,
24Nangcae amthaek naah pathawkkung, lensawk angmah hmaa ah thuilaek ai anghoehaih hoiah zaehoikung,
25là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta, bởi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta, được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng thuộc về Ngài từ trước vô cùng và hiện nay cho đến đời đời! A-men.
25lensawkhaih hoi saiqathaih, ukhaih hoi thacakhaih loe palungha aicae pahlongkung Sithaw khae khue ah, vaihi hoi dungzan khoek to om poe nasoe. Amen.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.