II Phia
Chapter 1

II Phia

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Si-môn Phi-e-rơ, làm tôi tớ và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những kẻ cậy sự công bình của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi:
1Jesu Kri ih tamna, patoeh ih kami maeto ah kaom, Simon Piter mah, aicae Sithaw hoi pahlongkung Jesu Kri toenghaih rang hoiah aicae baktiah atho kana tanghaih tawn kaminawk khaeah tarik ih capat:
2nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!
2Sithaw hoi aicae Angraeng Jesu panoekhaih rang hoiah tahmenhaih hoi monghaih nangcae khaeah pung nasoe,
3Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính, khiến chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhân đức mà gọi chúng ta,
3Anih to a panoek o naah, a lensawkhaih hoi hoihaih rang hoiah aicae kawkkung, Sithaw panoekhaih hoiah a hing o moe, kho a sak o thai hanah, a thacakhaih hoiah hmuennawk boih to ang paek.
4và bởi vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản tánh Đức Chúa Trời.
4To baktih a lensawkhaih hoi hoihaih rang hoiah kalen parai, atho kana lokkamhaihnawk to aicae hanah paek boeh: to lokkamhaihnawk baktih toengah, kamhnong taksa koehhaih thung hoiah na loih o ueloe, Sithaw ih tuinuen katawn kami ah na om o tih.
5Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức,
5Tanghaih mah kahoih hmuen, kahoih hmuen mah panoekthaihaih,
6thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính,
6panoekthaihaih mah angsumthaihaih, angsumthaihaih mah palungsawkhaih, palungsawkhaih mah Sithaw panoekhaih;
7thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến.
7Sithaw panoekhaih mah nawkamya baktiah tahmenhaih, nawkamya baktiah tahmenhaih mah nawkamya baktiah amlunghaih na tawnh o thai hanah tha pathok oh.
8Vì nếu các điều đó có đủ trong anh em và đầy dẫy nữa, thì ắt chẳng để cho anh em ở dưng hoặc không kết quả trong sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đâu.
8Hae hmuennawk boih kapop ah na tawnh o nahaeloe, aicae Angraeng Jesu Kri panoekhaih bangah, athaih kaom ai ah maw, to tih ai boeh loe athaih athai ai ah maw na omsak mak ai.
9Nhưng ai thiếu những điều đó, thì thành ra người cận thị, người mù; quên hẳn sự làm sạch tội mình ngày trước.
9Toe hae hmuennawk tawn ai kami loe, hnukhaih tamcaek, mikmaeng ah oh, canghnii ih a zaehaihnawk loe pasaeh boih boeh, tiah kaom lok to pahnet ving kami ah ni oh.
10Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình. Làm điều đó anh em sẽ không hề vấp ngã;
10To pongah nawkamyanawk, nangcae kawkhaih hoi qoihhaih to caksak hanah tha pathok oh: hae hmuennawk na sak o nahaeloe, natuek naah doeh nam timh o mak ai:
11dường ấy, anh em sẽ được cho vào cách rộng rãi trong nước đời đời của Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta.
11aicae Angraeng hoi pahlongkung Jesu Kri ih dungzan kacak siangpahrang ah uk ih prae thungah akun thaihaih to kapop ah na hnu o tih.
12Bởi vậy cho nên, dầu anh em biết rõ ràng và chắc chắn trong lẽ thật hiện đây, tôi cũng sẽ nhắc lại những điều đó cho anh em chẳng thôi.
12To pongah vaihi thuih ih tamthanglok to na panoek o moe, loktang pongah kacakah nang doet o cadoeh, nangcae khaeah hae hmuennawk apet ai ah thuih han ka pahnet mak ai.
13Nhưng tôi còn ở trong nhà tạm nầy bao lâu, thì coi sự lấy lời răn bảo mà tỉnh thức anh em, là bổn phận của tôi vậy;
13Ue, hae kahni im ah ka oh nathung, na panoek o thai hanah acoe paek han hoih, tiah poekhaih ka tawnh;
14vì tôi biết tôi phải vội lìa nhà tạm nầy, như Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã bảo cho tôi.
14aicae Jesu Kri mah paek ih lok baktih toengah, hae kahni im hae akra ai ah ka suek sut han boeh, tito ka panoek.
15Nhưng tôi ân cần rằng sau khi tôi đi, anh em có thể hằng nhớ điều tôi đã nói.
15Ka duek pacoengah hae hmuennawk na panoek o thai poe hanah tha ka pathok han.
16Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.
16Aicae Angraeng Jesu Kri anghumhaih hoi thacakhaih kawng kang thuih o naah, kaicae loe ruici baktiah thuih rumram ih loknawk to ka pazui o ai, a lensawkhaih hnu kami ah ni ka oh o.
17Vì Ngài đã nhận lãnh sự tôn trọng vinh hiển từ nơi Đức Chúa Trời, Cha Ngài, khi Đấng tôn nghiêm rất cao phán cùng Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.”
17Anih loe lensawkhaih hoi pakoehhaih to Ampa Sithaw khae hoiah hnuk moe, Hae loe ka palung duek ih ka Capa ni, a nuiah kang hoe parai, tiah lensawk koek khae hoi ih lok to anih khaeah angzoh.
18Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh.
18Van hoi kangzo to lok loe anih hoi nawnto kaciim mae nuiah ka oh o naah ka thaih o.
19Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em.
19To khue ai tahmaanawk mah taphong o ih lok pongah, kacak aep oephaih to a tawnh o; nihcae ih lok loe na palung khodai moe, akhawnbang ah kamdueng cakaeh tacawt karoek to khoving aanghaih paek thaih hmaiim baktiah oh, nihcae mah taphong o ih loknawk to kahoihah poek oh;
20Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được.
20hae hae panoek o hmaloe ah, Cabu thungah kaom tahmaanawk ih lok loe kawbaktih kami mah doeh thuih koehhaih to angmah koehah panoek thai ai.
21Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.
21Tipongah tih nahaeloe canghnii ah taphong o ih loknawk loe kami koehhaih baktiah thuih ih lok na ai ni: Kacai Muithla toksakhaih rang hoiah ni Sithaw ih kaciim kaminawk mah lok to taphong o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.