II Phia
Chapter 1

II Phia

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibal Olcim (Matu…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Si-môn Phi-e-rơ, làm tôi tớ và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những kẻ cậy sự công bình của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi:
1Jesuh Khrih kah sal neh caeltueih Simon Peter loh, tangnah dongah mamih kah Pathen neh khangkung Jesuh Khrih kah duengnah, mamih neh vantlip la aka yo rhoek taengah kan yaak sak.
2nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!
2Nangmih Lungvatnah neh ngaimongnah tah Pathen neh mamih boeipa Jesuh mingnah lamloh nangmih taengah ping saeh.
3Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính, khiến chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhân đức mà gọi chúng ta,
3Amah thaomnah Pathen kah a tarhing ah hingnah neh hingcimnah ham, a thangpomnah neh boethen dongah mamih aka khue te mingnah lamloh, mamih taengah a cungkuem m'paek coeng.
4và bởi vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản tánh Đức Chúa Trời.
4Te lamlong ni a phu aka tlo tih aka lenkoek olkhueh te mamih m'paek. Te daengah ni he rhoek lamloh Pathen kah a coengnah kah a pueipo, Diklai hoehhamnah dongkah hmawnnah neh na loeih la na om eh.
5Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức,
5He dongah thahluenah te boeih rhoih uh. Khoboethen te na tangnah neh, mingnah te khoboethen neh,
6thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính,
6mingnah te kuemsuemnah neh, kuemsuemnah te uehnah neh, uehnah te hingcimnah neh,
7thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến.
7hingcimnah te khaw manuca lungnah neh, manuca lungnah te khaw lungnah neh thap uh.
8Vì nếu các điều đó có đủ trong anh em và đầy dẫy nữa, thì ắt chẳng để cho anh em ở dưng hoặc không kết quả trong sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đâu.
8He rhoek tah nangmih ah om tih a pungtai dongah mamih boeipa Jesuh Khrih kah mingnah dongah palyal pawt tih a tlongtlai n'khueh moenih.
9Nhưng ai thiếu những điều đó, thì thành ra người cận thị, người mù; quên hẳn sự làm sạch tội mình ngày trước.
9He rhoek neh aka om pawt te tah mikdael la om tih a hmuh toi. A tholh dingrhae vaengkah cimcaihnah te hnilhnah a khueh.
10Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình. Làm điều đó anh em sẽ không hề vấp ngã;
10Te dongah, manuca rhoek, nangmih kah khuenah neh tueknah te saii hamla khangmai la haam uh lah. Te te aka saii tah vaikhat khaw na paloe loengloeng mahpawh.
11dường ấy, anh em sẽ được cho vào cách rộng rãi trong nước đời đời của Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta.
11Te daengah ni mamih Boeipa neh Khangkung Jesuh Khrih kah dungyan ram la kunnah te nangmih ham kodam la han thap eh.
12Bởi vậy cho nên, dầu anh em biết rõ ràng và chắc chắn trong lẽ thật hiện đây, tôi cũng sẽ nhắc lại những điều đó cho anh em chẳng thôi.
12Te dongah hekah a kawng he na ming uh tih, oltak dongah na om uh te cawt duel cakhaw nangmih te a thoelh ham ka cai taitu.
13Nhưng tôi còn ở trong nhà tạm nầy bao lâu, thì coi sự lấy lời răn bảo mà tỉnh thức anh em, là bổn phận của tôi vậy;
13Tahae kah rhaehim ah ka om khuiah thoelhnah neh nangmih haeng ham te khaw dueng tila ka poek.
14vì tôi biết tôi phải vội lìa nhà tạm nầy, như Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã bảo cho tôi.
14Mamih kah Boeipa Jesuh Khrih long pataeng kai taengah a thuicaih vanbangla kai kah rhaehim a capitnah tah om pawn ni tila ka ming.
15Nhưng tôi ân cần rằng sau khi tôi đi, anh em có thể hằng nhớ điều tôi đã nói.
15Tedae kai te ka sunglatnah hnukah he he nangmih taengah poekkoepnah khueh sak taitu ham khaw ka haam.
16Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.
16Mamih Boeipa Jesuh Khrih kah thaomnah neh a lonah te cil la ka phueng uh tih ka vai dongah nangmih taengah kam phoe uh moenih. Tedae a lennah te aka hmukung rhoek la ka om uh ta.
17Vì Ngài đã nhận lãnh sự tôn trọng vinh hiển từ nơi Đức Chúa Trời, Cha Ngài, khi Đấng tôn nghiêm rất cao phán cùng Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.”
17Pa Pathen taeng lamkah hinyahnah neh thangpomnah a doe vaengah tebang aka khuet thangpomnah lamloh, “Kamah capa tah kamah thintlo pai ni he, a soah kai ka lungtlun,” tila anih taengah ol hang khuen.
18Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh.
18Tlang cim ah amah neh ka om uh vaengah vaan lamkah hekah ol he hang khuen tih, kaimih long khaw ka yaak uh.
19Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em.
19Te phoeiah tonghma ol te khaw khangmai la ka khueh uh. Tekah te nangmih thinko ah khothai tih thuipa a thoeng duela tikhut hmuen ah aka vang hmaiim bangla ngaithuen uh lamtah balh saii uh.
20Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được.
20He he lamhma la ming uh. Cacim kah tonghma ol boeih tah amah la thuicaihnah a om moenih.
21Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.
21Tonghma ol tah hlang kongaih lamloh hang khuen noek moenih. Tedae Mueihla Cim kah a mawt rhangneh Pathen taengkah ni hlang loh a phong.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.