II Tim 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ta, Phao-lô, theo ý muốn Đức Chúa Trời, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, đặng rao truyền lời hứa của sự sống trong Đức Chúa Jêsus Christ,
1Kri Jesu ah kahing lokkamhaih baktih toengah, Sithaw koehhaih hoiah Jesu Kri mah patoeh ih Pawl mah ca tarik,
2gởi cho Ti-mô-thê, là con rất yêu dấu của ta: nguyền con được ân điển, sự thương xót, sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, là Cha, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta!
2palung ih ka capa, Timote khaeah, Ampa Sithaw, aicae Angraeng Kri Jesu khae hoi ih tahmenhaih, palungnathaih hoi monghaih om nasoe.
3Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm, cả ngày lẫn đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện.
3Kam panawk mah bok o ih baktih toengah, poekcimhaih hoiah a tok ka sak pae ih Sithaw khaeah oephaih ka tawnh, aqum athun apet ai ah nang han lawk kang thuih pae;
4Vì ta nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ.
4mikkhraetui na longhaih to ka pahnet ai, anghoehaih hoiah ka koi thai hanah, nang hnuk han ka koeh parai;
5Ta cũng nhớ đến đức tin thành thật của con, là đức tin trước đã ở trong Lô-ít, bà nội con, và trong Ơ-nít, mẹ con, ta chắc rằng nay cũng ở trong con nữa.
5nang thungah kaom tanghaih tangtang loe nam sae Loisi hoi nam no Euni khaeah oh hmaloe, tito ka panoek, to tanghaih loe nang thungah doeh oh, tiah ka tang.
6Vậy nên ta khuyên con hãy nhen lại ơn của Đức Chúa Trời ban cho, mà con đã nhận lãnh bởi sự đặt tay của ta.
6Na nuiah ka ban koenghaih hoiah na hnuk ih Sithaw tangqum to na patoh hanah kang thaisak.
7Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ.
7Sithaw mah aicae han zithaih palungthin to paek ai; toe thacakhaih, amlunghaih, kahoih poekhaihnawk ni paek.
8Vậy con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ; nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin Lành.
8To pongah aicae Angraeng ih lok taphonghaih to azat haih hmah loe, anih ih thongkrah kami kai doeh azat haih hmah: Sithaw thacakhaih baktiah kahoih tamthanglok pongah pacaekthlaekhaih tong kami ah om ah.
9Aáy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta, bèn là theo ý riêng Ngài chỉ định, theo ân điển đã ban cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ từ trước muôn đời vô cùng,
9Anih loe aicae toksakhaih rang hoiah na ai, long om ai nathuem hoi Kri Jesu ah aicae han paek ih, angmah ih atimhaih hoi tahmenhaih baktih toengah ni, aicae hae pahlong moe, kaciim kawkhaih hoiah ang kawk,
10mà bây giờ mới bày ra bởi sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta, Ngài đã hủy phá sự chết, dùng Tin Lành phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng.
10toe vaihi loe aicae pahlongkung Jesu Kri amtuenghaih hoiah panoeksak boeh, anih mah duekhaih to phraek moe, hinghaih to paek boeh, kahoih tamthanglok rang hoiah anghma thai ai aanghaih thungah a caeh haih boeh:
11Aáy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư,
11to kahoih tamthanglok to panoeksak hanah, kai hae tamthanglok thuikung, patoeh ih kami, Gentelnawk patukkung ah ang suek.
12ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó.
12To pongah ni hae baktih patangkhanghaih hae ka tongh: toe ka zat ai: mi maw ka tang, tito ka panoek, anih khaeah kang aap baktih toengah, Anih loe to na Ni phak karoek to pakuem thaih, tiah oephaih ka tawnh.
13Hãy lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ mà giữ lấy mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích, là sự con đã nhận lãnh nơi ta.
13Tanghaih hoi amlunghaih loe Kri Jesu ah oh, tiah panoekhaih hoiah kai khae hoi na thaih ih katoeng patukhaih lok to kacakah patawn ah.
14Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều phó thác tốt lành.
14Nang khaeah kang aap ih kahoih hmuen to aicae thungah kaom Kacai Muithla rang hoiah pakuem ah.
15Con biết rằng mọi người ở xứ A-si đã lìa bỏ ta; trong số ấy có Phy-ghen và Hẹt-mô-ghen.
15Asia prae ah kaom kaminawk boih mah kai ang caeh o taak, tito na panoek; nihcae thungah Phygellu hoi Hermoge athum hoi.
16Cầu xin Chúa thương xót lấy nhà Ô-nê-si-phô-rơ, vì người đòi phen yên ủi ta, chẳng hề lấy sự ta bị xiềng xích làm xấu hổ.
16Angraeng mah Onesiphora imthung takoh nuiah palungnathaih tawn nasoe; anih mah loe tha ang paek toepsoep, sumqui hoi pathlet ah ka oh naah doeh na zat haih ai:
17Lại còn, khi người vừa đến thành Rô-ma, đã vội vả kiếm ta, và kiếm được.
17Rom vangpui ah ka oh naah, anih mah kai hnu ai karoek to ang pakrong.
18Xin chính mình Chúa cho người tìm thấy sự thương xót của Chúa trong ngày đó! Con lại biết hơn kẻ khác, người ở Ê-phê-sô đã hầu việc ta mọi đàng.
18To na Niah anih mah Angraeng palungnathaih hnuk thai hanah, Angraeng khaeah lawk ka thuih pae: Efisa vangpui ah ka oh naah, kawkruk maw anih mah kai ang khetzawn, tito kahoih ah na panoek.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.