Khải 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài,
1Anih mah akra ai ah kaom hankoi hmuennawk to a tamnanawk khaeah amtuengsak hanah, Sithaw mah Anih khaeah paek ih, kangphong Jesu Kri ih lok loe hae tiah oh; Anih mah angmah ih van kami to patoeh moe, kangphong lok to a tamna Johan khaeah amtuengsak:
2là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy.
2Johan loe Sithaw ih lok hoi Jesu Kri hnukung ah oh, a hnuk ih hmuennawk boih Johan mah taphong.
3Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi.
3Atue zoi boeh pongah, angzo hankoi hae taphong ih lok hae tahngai moe, kroek kami, a thungah tarik ih hmuennawk pakuem kami loe tahamhoih.
4Giăng gởi cho bảy Hội thánh ở xứ A-si: nguyền xin ân điển và sự bình an ban cho anh em từ nơi Đấng Hiện Có, Đã Có Và Còn Đến, cùng từ nơi bảy vị thần ở trước ngôi Ngài,
4Johan mah Asia prae thungah kaom sarihto kricaabunawk khaeah, kaom li, kaom tangcae, kaom hankoi hoi angmah ih angraeng tangkhang hmaa ah kaom sarihto Muithla khae hoiah,
5lại từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!
5oep kaom hnukung, kadueh kami thung hoi tapen tangsuek ah kaom capa, long siangpahrangnawk ukkung, Jesu Kri khae hoi ih tahmenhaih hoi monghaih to nangcae khaeah om nasoe. Anih mah aicae palung pongah, angmah ih athii hoiah aicae zaehaih to pasaeh boeh,
6Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men.
6Anih mah aicae to angmah ih Sithaw hoi Ampa khaeah siangpahrang hoi qaima ah ohsak boeh. Anih khaeah lensawkhaih hoi thacakhaih dungzan ah om poe nasoe. Amen.
7Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trong thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cùng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men!
7Khenah, anih loe tamai hoi nawnto angzo tih, kaminawk boih mah anih to hnu o tih, anih thunh kaminawk mah doeh hnu o tih: anih pongah long kaminawk boih qah o tih. To tiah om tih, Amen.
8Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Hiện Có, Đã Có, Và Còn Đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga.
8Kai loe Alpha hoi Omega, amtonghaih hoi boenghaih ah ka oh, tiah kaom li, kaom tangcae hoi kaom hankoi, Thacak, Angraeng mah thuih.
9Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Jêsus, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Jêsus.
9Jesu Kri ah patangkhanghaih hoi a prae thungah raihaih nangcae hoi nawnto pauep, nam nawk ah kaom, kai, Johan loe Sithaw lok hoi Jesu Kri ih tamthanglok ka thuih pongah, Patmost, tiah kawk ih tui mah takui khoep ih prae ah ka oh.
10Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa,
10Angraeng ih niah kai loe Muithla hoiah ka oh, ka hnukah kaom mongkah tuen baktiah katuen, kalen parai lok to ka thaih,
11rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê.
11to lok mah, Kai loe Alpha hoi Omega, hmaloe koek hoi hnukkhuem koekah ka oh: na hnuk ih hmuen to cabu thungah tarik ah loe, Asia prae ah kaom, Efisa, Smyrna, Pergamo, Thyatira, Sardi, Philadelphia hoi Laodicia kricaabunawk khaeah pat ah, tiah ang naa.
12Bấy giờ tôi xây lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì;
12To pacoengah kai khaeah lokthui kami to hnuk hanah kang qoi, to naah sui hoiah sak ih hmai paaanghaih sarihto ka hnuk;
13vừa xây lại thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa những chân đèn có ai giống như con người, mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực.
13to hmai paaanghaih sarihto thung ih maeto loe, Kami Capa baktiah oh, anih loe khok khoek to kapha kahni to angkhuk moe, saoek ah sui kahni to angzaeng.
14Đầu và tóc người trắng như lông chiên trắng, như tuyết; mắt như ngọn lửa;
14Anih ih lu hoi sam loe tuumui hoi dantui baktiah anglung; a mik loe hmaipalai baktiah oh;
15chân như đồng sáng đã luyện trong lò lửa, và tiếng như tiếng nước lớn.
15a khok loe hmai pangaeh ih, kampha sum kamling baktiah oh, a lok loe kalen parai tacang tui tuen baktiah oh.
16Tay hữu người cầm bảy ngôi sao; miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi và mặt như mặt trời khi soi sáng hết sức.
16Anih ih bantang ban hoiah cakaeh sarihto patawnh, anih ih pakha thung hoiah loe ahnuk ahmaa kanoe sumsen to tacawt: a mikhmai loe athun ih ni aengh baktiah aang.
17Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng,
17Anih to ka hnuk naah, kadueh baktiah a khokkung ah kam timh. Toe a bantang ban hoiah ang sui moe, Zii hmah; Kai loe hmaloe koek hoi hnukkhuem koekah ka oh:
18là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ.
18Kai loe kahing Anih to boeh ni, ka duek, toe khenah, Kai loe dungzan ah ka hing boeh, Amen. Duekhaih hoi hell cabi to ka tawnh,
19Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến,
19na hnuk ih hmuen, vaihi kaom li hmuen hoi kaom hankoi hmuennawk to tarik ah;
20tức là sự mầu nhiệm của bảy ngôi sao mà ngươi thấy trong tay hữu ta, và của bảy chân đèn vàng. Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy.
20panoek han karai na hnuk ih ka bantang ban ih sui hmai paaanghaih sarihto hoi cakaeh sarihtonawk loe hae tiah oh: cakaeh sarihto loe kricaabu sarihto ukkung van kaminawk ah oh, na hnuk ih hmai paaanghaih sarihto loe kricaabu sarihto thuih koehhaih ih ni, tiah ang naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.