Khải
Chapter 17
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia.
1Vankami sarihtonawk thungah sarihto haih boengloeng kasin, vankami maeto angzoh moe, kai khaeah, Angzo ah, pop parai tuinawk nuiah kanghnu, tangzat zaw nongpata lokcaekhaih to kang patuek han:
2Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó.
2long siangpahrangnawk loe anih hoiah zaehaih sak o, anih zae sakhaih misurtui mah long kaminawk to paquisak boih boeh, tiah ang naa.
3Tôi được Thánh Linh cảm động thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng.
3To pacoengah anih mah praezaek ah Muithla hoi nawnto ang caeh haih: to naah Sithaw ih ahmin kasae thui kaminawk ih ahmin hoiah kakoi lu sarihto hoi takii hato katawn, rong kamling moisan nuiah anghnu nongpata maeto ka hnuk.
4Người đàn bà ấy mặc màu tía mà điều, trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu; tay cầm một cái chén vàng đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế.
4To nongpata loe rong kamling hup hoi kathim kahni to angkhuk moe, sui, atho kana thlung, palenawk hoiah amthoep. A ban ah kamhnong hmuen, panuet thok nongpa nonpata zae sakhaih hoiah kakoi sui boengloeng to a sinh.
5Trên trán nó có ghi một tên, là: Sự Mầu nhiệm, Ba-By-Lôn Lớn, Là Mẹ Kẻ Tà Dâm Và Sự Đáng Gớm Ghê Trong Thế Gian.
5Anih ih lu pataeh ah, KATHUK HMUEN, KALEN BABYLON VANGPUI, LONG AMHNONGHAIH HOI TANGZATZAW KAMINAWK IH AMNO, tiah tarik.
6Tôi thấy người đàn bà đó say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus; tôi thấy mà lấy làm lạ lắm.
6Kaciim kaminawk ih athii, Jesu hanah lu angpaek kaminawk ih athii hoiah paquih nongpata to ka hnuk: anih to ka hnuk naah, thuilaek ai dawnraihaih hoiah ka oh.
7Thiên sứ bảo tôi rằng: sao người lấy làm lạ? Ta sẽ cắt nghĩa cho ngươi sự mầu nhiệm của người đàn bà cùng của con thú chở nó, là con thú có bảy đầu và mười sừng.
7Toe vankami mah, Tipongah dawn na rai loe? Lu sarihto hoi takii hato katawn, nongpata hoi moisan thuikoehhaih tamqulok to kang thuih han, tiah ang naa.
8Con thú ngươi đã thấy, trước có, mà bây giờ không còn nữa; nó sẽ từ dưới vực lên và đi đến, chốn hư mất; những dân sự trên đất, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống từ khi sáng thế, thấy con thú thì đều lấy làm lạ, vì nó trước có, nay không có nữa, mà sau sẽ hiện đến.
8Canghni ah loe na hnuk ih moi kasan to oh, toe vaihi loe om ai boeh; to moi kasan loe anghmat angtaa hanah, kaboeng thai ai kathuk longkhaw thung hoiah tacawt tahang tih: long oh tangsuek nathuem hoi hinghaih cabu thungah ahmin tarik ai ih, long nuiah kaom kaminawk mah kaom tangcae, vaihi kaom ai, angzo hankoi moi kasan to hnuk o naah dawnrai o tih.
9Đây là sự nghĩ ngợi có khôn ngoan. Bảy cái đầu tức là bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên.
9Haeah palunghahaih tawnh han angaih. Sarihto lu loe nongpata anghnuthaih mae sarihto thuih koehhaih ih ni.
10Nó cũng là bảy vì vua nữa; năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến; khi vì ấy sẽ đến, cũng chẳng còn được bao lâu.
10Siangpahrang sarihto thuih koehhaih ah doeh oh: siangpahrang pangato loe duek o boeh, vaihi maeto hing vop, kalah maeto loe angzo ai vop, anih angzoh naah loe, nawnetta thungah ni om tih.
11Chính con thú trước đã có nay không có nữa, là vì vua thứ tám; nó cũng ở trong số bảy, và nó sẽ đi đến chỗ hư mất.
11Canghni ah kaom, vaihi kaom ai moisan loe, sarihto haih siangpahrang thungah athum boeh, anih loe tazetto haih siangpahrang ah angzo let tih, toe anih loe anghmaa angtaa tih.
12Vả, mười cái sừng mà ngươi đã thấy, là mười vì vua chưa nhận được nước mình; nhưng họ nhận quyền vua với con thú trong một giờ.
12Na hnuk ih takii hato loe, prae ukthaihaih akaa tawn o ai vop siangpahrang hato thuih koehhaih ih ni; nihcae loe atue maeto thungah moisan hoi nawnto siangpahrang ah ukthaihaih akaa to hnu o tih.
13Chúng cũng một lòng một ý trao thế lực quyền phép mình cho con thú.
13Nihcae loe poekhaih maeto tawnh o, angmacae thacakhaih hoi ukthaihaih akaa to moisan hanah paek o tih.
14Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua; và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con, cũng thắng được chúng nữa.
14Nihcae loe Tuucaa hoi misa angtuh o tih, toe Anih loe angraengnawk ih Angraeng, siangpahrangnawk ih Siangpahrang ah oh pongah, Tuucaa mah nihcae to pazawk tih: Anih hoi nawnto om kaminawk loe kawk ih kami, qoih ih kami hoi oepthok kami ah oh o.
15Đoạn, thiên sứ lại nói với tôi rằng: Những dòng nước ngươi đã thấy, trên có dâm phụ ngồi, tức là các dân tộc, các chúng, các nước và các tiếng.
15To naah anih mah kai khaeah, Na hnuk ih tangzat zaw anghnuthaih tuinawk loe kaminawk, pop parai kaminawk, prae kaminawk hoi lok congca apae kaminawk thuih koehhaih ih ni.
16Mười cái sừng ngươi đã thấy, và chính mình con thú sẽ ghét dâm phụ, sẽ bóc lột cho nó lõa lồ, ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa.
16Moisan nuiah kaom na hnuk ih takii hato mah tangzat zaw nongpata to hnuma tih, anih to angmabueng omsak ueloe, bangkrai ah omsak tih, anih ih ngan to caa o ueloe, hmai hoiah qoeng o tih.
17Bởi Đức Chúa Trời đã để cho chúng có lòng vâng làm theo ý muốn Ngài cùng khiến chúng có chung một ý, và ban nước mình cho con thú, đến khi những lời Đức Chúa Trời phán được ứng nghiệm.
17Sithaw atimhaih akoep hanah, Anih mah siangpahrangnawk poekhaih maeto ah amhongsak moe, angmacae ukthaihaih akaa doeh moisan khaeah a paeksak; Sithaw ih lok akoep ai karoek to nihcae mah to tiah sak o.
18Người đàn bà ngươi đã thấy, tức là cái thành lớn hành quyền trên các vua ở thế gian.
18Na hnuk ih nongpata loe long nui siangpahrangnawk ukkung kalen vangpui to ni, tiah ang naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.