Khải
Chapter 2
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng:
1Efisa ah kaom van kami kricabu khaeah hae tiah tarik ah; a bantang banah cakaeh sarihto patawn, sui hoi sak ih hmai paaanghaih salakah amkae kami mah hae lok hae thuih:
2Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi; ta biết ngươi không thể dung được những kẻ ác, lại biết ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối.
2tok na sakhaih, tha na pathokhaih, na pauephaihnawk to ka panoek; kahoih ai kaminawk to na khen sut ai: patoeh ih kami na ai to mah, patoeh ih kami baktiah angsahcop kaminawk to na tanoek moe, nihcae loe amsawnlok thui kami ni, tiah nam tuengsak:
3Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào.
3Ka hmin pongah raihaih na tongh, amtanghaih to na pauep, toe tha na zok ai.
4Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu.
4Toe hmaloe ih amlunghaih to na caehtaak pongah, na nuiah koeh ai ih hmuen ka tawnh.
5Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó.
5To pongah nam timhaih ahmuen to pahnet hmah, dawnpakhuem ah loe, na sak hmaloe ih toknawk to sah ah; to tiah na dawnpakhuem ai nahaeloe, nang khaeah karangah kang zoh moe, na hmaithaw to a ohhaih ahmuen hoiah ka tahruet ving han.
6Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa.
6Toe kahoih hmuen na tawnh, kaimah doeh ka hnukma ih, Nikolaitan kaminawk mah sak o ih hmuennawk to na hnukma toeng.
7Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời.
7Naa tawn kami loe, Muithla mah kricaabunawk khaeah thuih ih lok to tahngai nasoe; Sithaw ih paradise um ah kaom hinghaih thingkung to caak hanah, pazawk kami khaeah ka paek han.
8Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Si-miệc-nơ rằng: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại:
8Smyrna ah kaom van kami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; hmaloe koek hoi hnukkhuem koekah kaom, kadueh moe, kahing let Anih mah hae loknawk hae thuih;
9Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà k” thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan.
9na tok sakhaih, na patangkhanghaih, nam tanghaih (toe nang loe angraeng ah ni na oh) to ka panoek; Judah kami ai to mah Judah kami ah angsahcop, Sineko ah kaom Setan ih kaminawk mah kasae thuih o ih loknawk doeh ka panoek.
10Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.
10Patang na khang han kaom hmuennawk to zii hmah: khenah, nang to tanoek hanah, taqawk mah nangcae thung ih thoemto kaminawk to thongim pakhrah tih; ni hato thung patangkhanghaih to na tongh o tih: duek khoek to oep kathok ah om oh, hinghaih sui lumuek to kang paek o han.
11Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai.
11Naa tawn kami loe, kricaabunawk khaeah Muithla mah thuih ih lok to tahngai nasoe; pazawk kami loe vaihnetto duekhaih mah nganbawh kana paek mak ai.
12Cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi:
12Pergamo ah kaom van kami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; ahnuk ahmaa kanoe sumsen katawn Anih mah hae loknawk hae thuih;
13Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở.
13na tok sakhaih, na ohhaih ahmuen hoi Setan anghnuthaih tangkhang ohhaih ahmuen to ka panoek: nangcae salak ih Setan ohhaih ahmuen ah, oep kaom Kai ih kami Antipa hum o nathuem ah, Ka hmin to kacakah na patawnh, Kai tanghaih na caehtaak ai.
14Nhưng ta có điều quở trách ngươi; vì tại đó, ngươi có kẻ theo đạo Ba-la-am, người ấy dạy Ba-lác đặt hòn đá ngăn trở trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn.
14Toe Israel caanawk nihcae hmaa ah amtimh o moe, krang bokhaih buhcaak khue ai ah, nongpa nongpata zaehaih sak o hanah, Balak patukkung, Balaam mah patuk ih lok pazui kaminawk nangcae khaeah oh o pongah, na nuiah koeh ai ih hmuen zetta ka tawnh.
15Ngươi lại cũng có những kẻ theo đạo Ni-cô-la.
15To baktih toengah ka hnukma ih, Nikolaitan kaminawk mah patuk ih lok pazui kaminawk doeh nangcae thungah oh o.
16Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó.
16Dawnpakhuem ah, to tih ai nahaeloe karangah nang khae kang zoh moe, ka pakha thung ih sumsen hoiah nihcae to ka tuk han.
17Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến.
17Naa tawn kami loe, kricaabunawk khaeah Muithla mah thuih ih lok to tahngai nasoe; pazawk kami hanah loe hawk ih manna to caak hanah ka paek han, kahak kami khue mah ai ah loe, mi mah doeh panoek ai ih, a nuiah ahmin kangtha tarik ih thlung, thlung kanglung maeto anih hanah ka paek han.
18Ngươi cũng hãy viết thơ cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng:
18Thyatira ah kaom vankami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; hmaipalai baktiah kaom mik, kampha sum kamling baktiah kaom khok katawn, Sithaw Capa mah hae loknawk hae thuih;
19ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa.
19na sak ih toknawk, amlunghaih, toksakhaih, tanghaih, na toksakhaih hoi palungsawkhaih to ka panoek; na sak hmaloe ih tok pongah hnukkhuem ah na sak ih tok to pop kue.
20Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.
20Toe ka tamnanawk nongpa nongpata zaehaih saksak hanah patuk moe, krang bokhaih buhcaak hanah pacuek, angmah hoi angmah to kai loe tahmaa nongpata maeto ah ni ka oh, tiah kathui nongpata Jezebel to na pakaa ai na khet sut pongah, na nuiah koeh ai ih hmuen zetta ka tawnh.
21Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, mà nó chẳng muốn ăn năn điều tà dâm nó!
21Nongpa nongpata zae sakhaih thung hoiah a dawnpakhuem hanah anih to atue ka paek, toe anih mah dawnpakhuem ai.
22Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn.
22To pongah khenah, anih to ngannathaih iihkhun nuiah ka vah han, anih hoi zaehaih sah kaminawk doeh a sak o ih hmuennawk pongah dawnpakhuem o ai nahaeloe, kanung parai patangkhanghaih thungah ka vah han.
23Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại.
23Anih ih caanawk to ka hum han; to naah ni kricaabunawk boih mah Kai loe kami ih palungthin pakrong Anih ah ka oh, tiah panoek o tih: na sak o ih tok baktih toengah kang paek o han.
24Nhưng, với các ngươi là kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó và chưa biết điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan, như chúng vẫn nói, thì ta phán dặn rằng ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác.
24Thoem to kaminawk mah kathuk Setan ih hmuennawk, tiah thuih o ih hmuennawk to panoek ai kami, to baktih amtukhaih tawn ai kaminawk hoi kanghmat Thyatira kaminawk khaeah loe, Nangcae nuiah kalah hmuenzit ka koeng mak ai, tiah ka thuih.
25Chỉn các ngươi khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng ta đến.
25Na tawnh o ih hmuen to kang zo ai karoek to kacakah patawn oh.
26Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước:
26Pazawk kami hoi boeng khoek to kai ih toksah kami hanah loe acaeng kaminawk ukthaihaih to ka paek han:
27kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta.
27kam Pa khae hoi ka hnuk ih baktih toengah, Anih mah acaeng kaminawk to sumboeng hoiah uk tih; nihcae loe laom kakoi baktiah koi o tih.
28Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai.
28Anih hanah akhawnbang cakaeh to ka paek han.
29Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
29Naa tawn kami loe, Muithla mah kricaabunawk khaeah thuih ih lok to tahngai nasoe.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.