Khải
Chapter 2
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng:
1E PALAPALA aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Epeso; Ke i mai nei ka mea nana e paa ana na hoku ehiku ma kona lima akau, a e hele ana hoi mawaena o na ipu kukui gula ehiku, penei;
2Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi; ta biết ngươi không thể dung được những kẻ ác, lại biết ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối.
2Ua ike no au i kau hana ana, a me kou luhi, a me kou ahonui, a me ka hiki ole ia oe ke hoomanawanui i ka poe hewa; a ua hoao oe i ka poe i hai mai ia lakou iho he poe lunaolelo, aole ka, a ua ike oe ia lakou, he poe wahahee.
3Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào.
3He ahonui kou, a ua hoomanawanui no hoi oe ma ko'u inoa, aole i paupauaho.
4Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu.
4He mea no nae ka'u ia oe, no ka mea, ua haalele oe i kou aloha mua.
5Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó.
5Nolaila, e hoomanao oe i kou wahi i haule ai, a e mihi hoi, a e hana hoi i na hana mua; a i ole, ea, e hele koke aku au iou la, a e lawe aku i kou ipukukui, mai kona wahi aku, ke mihi ole oe.
6Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa.
6O kau hoi keia, ua hoowahawaha oe i ka hana ana a ka poe Nikolaite, o ka mea a'u i hoowahawaha aku ai.
7Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời.
7O ka mea pepeiao la, e hoolohe ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia; O ka mea lanakila, e haawi no wau ia ia, e ai i ko ka laau o ke ola, ka mea maloko o ka paradaiso o ko'u Akua.
8Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Si-miệc-nơ rằng: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại:
8E palapala aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Semurena; Ke i mai nei ka mea mua, a me ka mea hope, o ka mea i make, a i ola hou, menei;
9Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà k” thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan.
9Ua ike no au i kau hana ana, a me kou popilikia, a me kou hune, ua waiwai no nae oe; a ua ike au i ka olelo hooino a ka poe i kapa ia lakou iho he poe Iudaio, aole ka, o ka halehalawai lakou o Satana.
10Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.
10Mai makau aku i na mea au e pilikia ai: aia hoi, e hahao ana o ka diabolo i kekahi o oukou iloko o ka halepaahao, i hoaoia'i oukou; he umi na la a oukou e kaumaha ai. E ku paa oe ma ka pono a hiki i ka make, a na'u no e haawi aku ia oe i ka lei o ke ola.
11Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai.
11O ka mea pepeiao la, e hoolohe ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia; O ka mea lanakila, aole loa ia e eha i ka make alua.
12Cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi:
12E palapala aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Peregamo; Ke i mai nei ka mea nana ka pahikaua oi lua penei;
13Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở.
13Ua ike no au i kau hana ana, a me kou wahi e noho la, aia ma kahi nohoalii o Satana; a ua paa ia oe ko'u inoa, aole hoi oe i hoole i ko'u manaoio, aole i na la o Anetipasa o ka mea i hoike oiaio no'u; ua pepehiia oia iwaena o oukou, i kahi e noho ai o Satana.
14Nhưng ta có điều quở trách ngươi; vì tại đó, ngươi có kẻ theo đạo Ba-la-am, người ấy dạy Ba-lác đặt hòn đá ngăn trở trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn.
14Aka, he mau mea ka'u ia oe, no ka mea, aia no ia oe kekahi poe malama i ka manao o Balaama, nana i ao mai ia Balaka e kau imua o na mamo a Iseraela i ka mea e hina ai, e ai i na mea i kaumahaia na na kii, a e moe kolohe hoi.
15Ngươi lại cũng có những kẻ theo đạo Ni-cô-la.
15Aia no hoi ia oe kekahi poe malama i ka manao o ka poe Nikolaite, ka mea a'u i hoowahawaha'i.
16Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó.
16Nolaila, e mihi oe; a i ole, ea, e hele koke aku au iou la, a e kaua aku ia lakou, me ka pahikaua o kuu waha.
17Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến.
17O ka mea pepeiao la, e hoolohe ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia; O ka mea lanakila, e haawi aku au ia ia e ai i ka mane i hunaia, a e haawi no hoi au ia ia i ka pohaku keokeo, a maluna iho o ua pohaku la, ua palapalaia ka inoa hou, aole mea ike ia inoa, o ka mea wale no ia ia ka pohaku.
18Ngươi cũng hãy viết thơ cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng:
18E palapala aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Tuateira; Ke i mai nei ke Keiki a ke Akua, ka mea nona na maka e like me ka lapalapa o ke ahi, a ua like kona mau wawae me ke keleawe melemele maikai, penei;
19ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa.
19Ua ike au i kau hana ana, a me kou aloha, a me kou lawelawe ana, a me kou manaoio, a me kou ahonui, a me ka oi ana aku o kau hana hope, mamua o na hana mua.
20Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.
20Aka, he mea ka'u ia oe, no ka mea, ua waiho wale oe i ka wahine ia Iesabela, ka mea i hai mai ia ia iho, he kaula, a ua ao mai oia, a ua hoowalewale mai i ka'u poe kauwa, e moe kolohe, a e ai i na mea i kaumahaia na na kii.
21Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, mà nó chẳng muốn ăn năn điều tà dâm nó!
21Ua haawi aku no au ia ia i manawa e mihi ai, no kona moe kolohe ana, aole loa oia i mihi.
22Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn.
22Aia hoi, e kiola ana au ia ia i kahi moe, a me ka poe i moe kolohe me ia, iloko o ka mainoino nui, ke mihi ole lakou i ka lakou hana ana.
23Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại.
23A e luku aku no au i kana mau keiki i ka make; a e ike auanei na ekalesia a pau, owau no ka mea huli i ka opu a me ka naau; a na'u no e haawi aku i kela mea i keia mea o oukou, e like me ka oukou hana ana.
24Nhưng, với các ngươi là kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó và chưa biết điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan, như chúng vẫn nói, thì ta phán dặn rằng ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác.
24Ke olelo aku nei no hoi au ia oukou, ka poe i koe ma Tuateira, ka poe aole i hahai ma ia manao, ka poe aole i ike i ko Satana mea hohonu, pela ka olelo; aole au e kau maluna o oukou i kekahi mea kaumaha e ae.
25Chỉn các ngươi khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng ta đến.
25Aka, i ka mea a oukou e paa nei, ea, e hoopaa ia mea a hiki aku au.
26Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước:
26O ka mea e lanakila a malama hoi i ka'u hana, a hiki i ka hopena, e haawi aku no au ia ia i ka mana maluna o na lahuikanaka:
27kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta.
27A e hoomalu no oia ia lakou me ke kookoohao; me na ipu lepo e ulupaia'i lakou; e like me ka'u i loaa mai ai i ko'u Makua.
28Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai.
28A na'u no e haawi ia ia i ka hokuao.
29Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
29O ka mea pepeiao la, e hoolohe ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.