Khải
Chapter 6
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ nhất trong bảy ấn thì tôi thấy một con trong bốn con sanh vật nói tiếng như sấm rằng: Hãy đến!
1NANA aku la au, a akaa ae la ke Keikihipa i ka mua o na wepa ehiku, a lohe iho la au i kekahi o na mea ola eha, e olelo ana, e like me ka halulu hekili, E hele mai e ike.
2Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người một cái mão triều thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng.
2A nana aku la au, aia hoi, he lio keokeo; a o ka mea e noho ana maluna iho ona, he kakaka kana, a ua haawiia mai nona kekahi papale alii; a hele lanakila ia, a e lauakila ana.
3Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe con sanh vật thứ nhì nói: Hãy đến!
3A wehe ae la ia i ka lua o ka wepa, a lohe aku la au i ka lua o ka mea ola, i ka i ana mai, E hele mai e ike.
4Liền có con ngựa khác sắc hồng hiện ra. Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn.
4A hele aku la kekahi lio hou, he ulaula; a o ka mea e noho ana maluna ona, ua haawiia nana e lawe aku i ke kuikahi like, mai ka honua aku, i pepehi lakou i kekahi i kekahi: a ua haawiia nana he pahikaua nui.
5Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con sanh vật thứ ba nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa ô. Kẻ ngồi trên ngựa tay cầm cái cân.
5A i ka wa ana i wehe ai i ke kolu o ka wepa, lohe aku la au i ke kolu o ka mea ola, i ka i ana mai, E hele mai e ike. Nana aku la au, aia hoi, he lio eleele; a o ka mea e noho ana maluna iho ona, aia no i kona lima ka mea kaupaona.
6Tôi lại nghe ở giữa bốn con sanh vật như có tiếng nói rằng: Một đấu lúa mình bán một đơ-ni-ê, ba đấu mạch nha bán một đơ-ni-ê, còn dầu và rượu chớ động đến.
6A lohe aku la au i ka leo mawaena mai o ka mea ola eha, i ka i ana mai, Akahi kiaha palaoa, akahi denari, a ekolu kiaha bale, akahi denari; a mai hana ino oe i ka aila a me ka waina.
7Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe con sanh vật thứ tư nói: Hãy đến!
7A wehe ae la ia i ka ha o ka wepa, lohe aku la au i ka ha o na mea ola, i ka i ana mai, E hele mai e ike.
8Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng vàng hiện ra. Người cỡi ngựa ấy tên là Sự Chết, và Aâm phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế gian, đặng sát hại dân sự bằng gươm dao, bằng đói kém, bằng dịch lệ và bằng các loài thú dự trên đất.
8A nana aku la an, aia hoi, he lio lenalena; a o ka mea e noho ana maluna iho ona, o Make kona inoa, a hahai aku la o ka po mahope ona. A ua haawiia mai ia ia ka mana maluna o kekahi hapa o ka honua, e luku aku me ka pahikaua, a me ka wi, a me ka make, a me na ilio hihiu o ka honua.
9Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm.
9A i kona wehe ana i ka lima o ka wepa, ike aku la au malalo iho o ke kuahu i na uhane o ka poe i pepehiia no ka olelo a ke Akua, a no ka mea a lakou i hoike aku ai.
10Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?
10Hea mai la lakou me ka leo nui, i mai la, E ka Haku hoano, a me ka oiaio, pehea la ka loihi? aole anei oe e hookolokolo, a e hoopai hoi i ko makou koko, maluna o ka poe e noho la ma ka honua?
11Có kẻ bèn cho họ mỗi người một cái áo trắng dài; và có lời phán rằng phải ở yên ít lâu nữa, cho đến khi được đủ số người cùng làm việc và anh em mình phải bị giết như mình vậy.
11Ua haawiia'ku ka aahu keokeo na kela mea keia mea o lakou, ua oleloia aku la hoi lakou, e kakali iki lakou, a hiki i ka manawa e pau ai ko lakou poe hoalawehana a me ko lakou poe hoahanau, ka poe e pepehiia ana e like me lakou.
12Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, thì có một cơn động đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết.
12A i kona akaa ana i ke ono o na wepa, ike aku la au, a nui loa iho la ke olai; a lilo iho la ka la i mea eleele e like me ka lole lauoho, a lilo ka mahina a pau e like me ke koko:
13Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống.
13A haule mai la na hoku o ka lani a i ka honua, e like me ka laau fiku i lulu i kona hua opiopio i kona wa i hooluliluliia e ka makani nui;
14Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tròn, và hết thảy các núi các đảo bị quăng ra khỏi chỗ mình;
14A hookaawaleia'ku la na lani e like me ka pepa i owiliia; a ua hooneeneeia na mauna, a me na moku a pau, mai ko lakou wahi aku.
15các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền thế, các kẻ tôi mọi, các người tự chủ đều ẩn mình trong hang hố cùng hòn đá lớn trên núi,
15A o na'iii o ka honua, a me na mea kiekie, a me na lunatausani, a me ka poe waiwai, a me ka poe ikaika, o na kauwa a pau, a me na haku a pau, pee lakou iloko o na ana a me na pohaku o na kuahiwi;
16chúng nói với núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con!
16A hea aku la lakou i na kuahiwi a me na pohaku, E haule mai oukou maluna iho o makou, a e uhi mai ia makou, mai ka maka o ka Mea e noho la ma ka nohoalii, a me ka inaina o ke Keikihipa.
17Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?
17No ka mea, ua hiki mai ka la nui o kona inaina; owai hoi ka mea hiki ke ku iluna?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.