Khải 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi Chiên Con mở ấn thứ bảy, trên trời yên lặng chừng nửa giờ.
1A I kona akaa ana i ka hiku o na wepa, hamau loa ko ka lani e like me ka hapalua hora.
2Tôi thấy bảy vị thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời, và có người trao cho bảy ống loa.
2A ike aku la au i na anela ehiku, ka poe i ku imua o ke Akua; a ua Laawiia mai ia lakou ehiku pu puhi.
3Đoạn, một vị thiên sứ khác đến, đứng bên bàn thờ, người cầm lư hương vàng, và được nhiều hương để dâng hương ấy trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi với các lời cầu nguyện của mọi thánh đồ.
3A hele ae la kekahi anela hou, a ku mai la ma ke kuahu, he ipuala gula kana; a ua haawiia mai he mea ala ia ia he nui loa, i amama pu oia ia mea me na pule a ka poe haipule a pau, ma ka lele gula aia imua o ka nohoalii.
4Khói hương từ tay thiên sứ bay lên trước mặt Đức Chúa Trời, với những lời cầu nguyện của các thánh đồ.
4Punohu aku la ka uahi o ia mea ala a me na pule a ka poe haipule, mai ka lima aku o ka anela, imua o ke Akua.
5Thiên sứ lấy lư hương, dùng lửa nơi bàn thờ bỏ đầy vào, rồi quăng xuống đất; liền có sấm sét, các tiếng, chớp nhoáng và đất động.
5Lawe ae la ka anela i ka ipuala a hahao iho la a piha i ke ahi o ke kuahu, a kiola iho la ilalo i ka honua; alaila puka mai la na leo, a me na hekili, a me na uila, a me ke olai.
6Bảy vị thiên sứ cầm bảy ống loa bèn sửa soạn thổi.
6A o na anela ehiku, ia lakou na pu ehiku, hoomakaukau lakou e puhi.
7Vị thứ nhất thổi loa, thì có mưa đá và lửa pha với huyết bị quăng xuống đất. Một phần ba đất bị cháy, một phần ba loài cây bị cháy, và mọi giống cỏ xanh đều bị cháy.
7A puhi ae la ka anela mua, a hiki mai la ka hua hekili, a me ke ahi, i hui pu ia me ke koko, ua hooleiia iho la ia i ka honua. Pau iho la i ke ahi ka hapakolu o na laau, a pau no hoi ka mauu uliuli a pau i ke ahi.
8Vị thiên sứ thứ nhì thổi loa; bèn có một khối tựa như hòn núi lớn toàn bằng lửa bị ném xuống biển. Một phần ba biển biến ra huyết,
8A puhi ae la ka anela elua, a ua hooleiia'ku la i ke kai, he mea e like me ke kuahiwi nui e aa ana i ke ahi. A lilo iho la ka hapakolu o ke kai i koko.
9một phần ba sanh vật trong biển chết hết, và một phần ba tàu bè cũng bị hủy hết.
9A make iho la ka hapakolu o na mea e ola ana iloko o ke kai; a lukuia iho la ka hapakolu o na moku.
10Vị thiên sứ thứ ba thổi loa, thì một ngôi sao lớn ở trên trời rơi xuống, cháy có ngọn như một bó đuốc; ngôi sao ấy rơi vào một phần ba các sông lớn và các suối nước.
10A puhi ae la ka anela ekolu, a haule mai kekahi hoku nui, mai ka lani mai, e aa ana e like me ka ipukukui, a haule ia maluna o ka hapakolu o na muliwai, a maluna o na wai puna;
11Tên ngôi sao đó là Ngải cứu, một phần ba nước biến ra như mùi ngải cứu, và làm chết mất nhiều người ta, vì đã biến thành ra đắng.
11Ua kapaia'ku ka inoa o ia hoku o Awaawa; a lilo iho la kekahi hapakolu o na wai i awaawa; a nui loa iho la ka poe kanaka i make i ka wai, no ka mea, ua lilo ia i mea awaawa.
12Vị thiên sứ thứ tư thổi loa, thì một phần ba mặt trời bị hại, một phần ba mặt trăng và một phần ban các ngôi sao cũng vậy, hầu cho một phần ba các vì sáng ấy đều bị tối tăm, và hầu cho ban ngày mất một phần ba sáng, và ban đêm cũng vậy.
12A puhi ae la ka anela ha, a ua hahauia'ku la kekahi hapakolu o ka la, a me ka hapakolu o ka mahina, a me ka hapakolu o na hoku; ua poeleele ka hapakolu o lakou, a o ka hapakolu o ke ao, aole malamalama, a pela no hoi ka po.
13Bấy giờ tôi nhìn xem, nghe chim phụng hoàng bay giữa trời, kêu tiếng lớn rằng: Khốn thay! Khốn thay! Khốn thay! cho những dân sự trên đất, vì cớ tiếng loa mà ba vị thiên sứ khác còn phải thổi nữa.
13Nana aku la au, a lohe aku la i kekahi anela e lele ana mawaena o ka lani, e hea ana me ka leo nui, Auwe, auwe, auwe, i ka poe e noho la ma ka honua, no na kani ana i koe o ka pu o na anela ekolu i makaukau e hookani mai!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.