Khải 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra.
1KUHIKUHI mai la oia ia'u i ka muliwai o ka wai ola, a akaka e like me ke aniani, puka mai la ia mai ka nohoalii mai o ke Akua a o ke Keikihipa.
2ỳ giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân.
2A mawaena o kona alanui a ma kela kapa keia kapa o ka muliwai, o ka laau o ke ola, e hua ana i ka hua he umikumamalua ke ano, akahi malama, akahi hua ana. A o na lau o ka laau, oia ka mea e ola'i na lahuikanaka.
3Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa; ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài;
3Aole loa he mea ino malaila; a aia maloko o ia wahi ka nohoalii o ke Akua a me ke Keikihipa, a e malama kana poe kauwa ia ia.
4chúng sẽ được thấy mặt Chúa, và danh Chúa sẽ ở trên trán mình. Đêm không còn có nữa,
4A e ike aku no lakou i kona maka; a aia hoi kona inoa ma ko lakou mau lae.
5và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho; và chúng sẽ trị vì đời đời.
5Aole po malaila, aole hoi make kukui, a me ka malamalama o ka la; no ka mea, na ka Haku na ke Akua no e hoomalamalama ia lakou: a e lilo lakou i mau alii a i ke ao pau ole.
6Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra.
6I mai la kela ia'u, Ua pololei keia mau olelo, ua oiaio: a o ka Haku o ke Akua o ka poe kaula hemolele, hoouna mai la oia i kona anela, e hai mai i kana poe kauwa i na mea e hana koke ia mai.
7Kìa, ta đến mau chóng. Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy!
7Eia hoi, e hele koke mai no au, pomaikai ka mea malama i na olelo o ka wanana o keia buke.
8Chính tôi là Giăng đã thấy và nghe những điều đó. Khi nghe và thấy đoạn, tôi sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi, để thờ lạy.
8Owau, o Ioane nei ka mea i ike a i lohe hoi i neia mau mea: a i ka wa a'u i lohe ai a ike aku ai hoi, moe iho la au e hoomana aku ma na wawae o ka anela nana i hoike mai ia'u i neia mau mea.
9Song người phán rằng: Chớ làm vậy! Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, là các đấng tiên tri, và với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời!
9I mai la kela ia'u, Uoki kau: no ka mea, owau no kou hoakauwa, kekahi o na kaula, kou mau hoahanau, ka poe e malama i na olelo o keia buke. E hoomana i ke Akua.
10Rồi người lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy; vì thì giờ đã gần đến.
10I mai la kela ia'u, Mai hoopaa i ka wepa i na olelo o ka wanana o keia buke; no ka mea, ua kokoke mai ka manawa.
11Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!
11O ka mea hewa, e mau no kona hewa; a o ka mea paumaele, e mau no kona paumaele; a o ka mea pono, o mau no kona pono; a o ka mea hemolele, e mau no kona hemolele.
12Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
12Eia hoi, e hele koke mai au, a eia no ia'u ka'u uku, a e haawi aku au i kela mea a i keia mea e like me kana hana ana.
13Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt.
13Owau no ka Alepa a me ka Omega, ke kumu a me ka welau, ka mua a me ka hope.
14Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành!
14Pomaikai ka poe malama i kona mau kanawai, i hiki ke loaa ia lakou ko ka laau o ke ola, i komo aku hoi ma na puka, iloko o ke kulanakanhale.
15Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy.
15Aia mawaho na ilio, a me na mea hoopiopio, a me na moe kolohe, a me na pepehi kanaka, a me ka poe hoomanakii, a me ka poe a pau i makemake a hana aku hoi ma ka wahahee.
16Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi trước mặt các Hội thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói.
16Owau, o Iesu, ua hoouna aku au i ko'u anela, e hoike aku ia oukou i keia mau mea ma na ekalesia. Owau no ke kumu a me ka mamo a Davida; owau no ka hokuao malamalama.
17Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không.
17Ke olelo mai nei ka Uhane a me ka wahine mare; E hele mai. A e olelo hoi ka mea lohe, E hele mai A o ka mea makewai la, e hele mai ia. A o ka mea makemake, e lawe wale ia i ka wai o ke ola.
18Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy.
18Ke hoike aku nei au i ka poe a pau i lohe i ka olelo o ka wanana o keia buke, Ina e hookui mai kekahi i ka mea hou me keia mau olelo, na ke Akua no e hookui mai me ia kanaka, i na mea ino i palapalaia maloko o keia buke:
19Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy.
19A ina e lawe aku kekahi i kekahi olelo o ka buke o keia wanana, na ke Akua no e lawe aku i kona kuleana mai loko aku o ka laau o ke ola, a mai loko aku o ke kulanakauhale hoano, a mai waena aku o na mea i palapalaia maloko o keia buke.
20Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: Phải, ta đến mau chóng. A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến!
20Ke i mai nei ka mea nana i hoike mai i keia mau mea, E oiaio no, e hele koke mai no au. Amene. E hele mai oe, e ka Haku, e Iesu.
21Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus ở với mọi người!
21O ke aloha o ka Haku, o Iesu Kristo, me oukou a pau. Amene. KA HOPENA.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.