Khải
Chapter 21
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa.
1I KE aku la au i ka lani hou a me ka honua hou; no ka mea, ua lilo ka lani mua a me ka honua mua; aole hoi he kai hou aku.
2Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình.
2Owau no o Ioane, ike aku la au i ka iho ana mai o ke kulanakauhale hoano o Ierosalema hou, mai ke Akua, mai ka lani mai, ua makaukau, e like me ka wahine mare i kahikoia no kana kane.
3Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.
3A lohe aku la au i ka leo nui, mai ka lani mai, i ka i ana, Aia ka halelewa o ke Akua me kanaka, a e noho ana oia me lakou, a e lilo lakou i kanaka nona, a e noho pu ke Akua me lakou i Akua no lakou.
4Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi.
4A na ke Akua no e holoi i na waimaka a pau, mai ko lakou maka aku; aole he make hou aku, aole kanmaha, aole uwe, aole hoi he mea e eha ai; no ka mea, na pau na mea kahiko i ka lilo aku.
5Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật.
5I mai la ka mea i noho ma ka nohoalii, Aia hoi, ke hana hou nei au i na mea a pau. I mai la kela ia'u, E palapala oe; no ka mea, he pono keia mau olelo, he oiaio.
6Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không.
6I hou mai ia ia'u, Ua pau: owau no ke Alepa a me ka Omega, ke kumu a me ka welau. O ka mea makewai, e haawi wale aku au nana i ka wai puna o ke ola.
7Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.
7O ka mea lanakila, e ili mai keia mau mea a pau nona; a e lilo wau i Akua nona, a oia hoi, i keiki na'u.
8Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.
8Aka, o ka poe hopohopo, a me ka poe hoomaloka, a me ka poe i hoopailuaia, a me ka poe pepehi kanaka, a me ka poe moe kolohe, a me ka poe hoopiopio, a me ka poe hoomanakii, a me ka poe hoopunipuni a pau, e loaa ia lakou ko lakou pun ma ka loko e aa mau loa ana i ke ahi a me ka luaipele; oia ka make alua.
9Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con.
9Hele mai la kekahi o na anela ehiku e paa ana i na hue ehiku i piha i na ino hope loa ehiku, a kamailio mai ia'u, i mai la, E hele mai, a e hoike aku au ia oe i ka wahine mare, o ka wahine hoi a ke Keikihipa.
10Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống,
10Lawe ae la ia ia'u ma ka Uhane, i ke kuahiwi nui a kiekie loa, a hoike mai la ia'u i ke kulanakauhale laa ia Ierusalema, e iho mai ana, mai ka lani, mai ke Akua mai,
11rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt.
11Me ka nani o ke Akua: a ua like kona alohilohi me ka pohaku maikai loa, e like me ka pohaku iasepi, moakaka me he aniani la;
12Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên:
12Ua paa hoi i ka pa nui kiekie, he umi a me kumamalua puka komo, a ma na puka he umikumamalua anela, a maluna iho, ua kakauia na inoa, oia hoi na inoa o na ohana umikumamalua o na keiki a Iseraela.
13phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa.
13Ma ka hikina, ekolu puka; a ma ka aoao akau, ekolu pnka; a ma ka aoao hema, ekolu puka; a ma ke komohana, ekolu puka.
14Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con.
14He umikumamalua pohaku kumu o ka pa o ua kulanakauhale la, a ma ia mau pohaku, na inoa o ka poe lunaolelo a ke Keikihipa, he umikumamalua.
15Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành.
15A o ka mea i kamailio mai ia'u, aia no ia ia he ana he ohe gula, i mea e ana ai i ke kulanakauhale, a me kona mau puka a me kona pa.
16Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau.
16Eha aoao o ia kulanakauhale, a ua like ka loa me ka laula. A ana iho la ia i ke kulanakauhale me ka ohe, he umikumamalua tausani setadia. Ua like no ka loa a me ka laula, a me ke kiekie.
17Người lại đo tường thành: được một trăm bốn mươi bốn cu-đê, là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ.
17Ana iho la ia i kona pa, akahi haneri kubita a me kanahakumamaha, ma ke ana ana o ke kanaka, oia hoi ko ka anela.
18Tường thì xây bằng bính ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thủy tinh trong vắt.
18He pa iasepi kona pa, a o ke kulanakauhale, he gula aiai, e like me ke aniani aiai.
19Những nền tường thành thì trang sức đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; nền thứ ba, bằng lục mã não; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm;
19Ua hoonaniia ke kumu o ka pa i na pohaku maikai a pau loa. O ke kumu mua o ka hooku ana, he iasepi; o ka lua, he sapeiro; o ke kolu, he kalekedona; o ka ha, he omaomao;
20nền thứ năm, bằng hồng mã não; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu.
20A o ka lima, he saredonuka; a o ke ono, he saredio; a o ka hiku, he kerusolito; a o ka walu, he berulo; a o ka iwa, he topazo; a o ka umi, he kurusoperaso; a o ke kumamakahi, he huakineto; a o ke kumamalua, he ametuseto.
21Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu; mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành. Đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt.
21A o ka puka umikumamalua, he mau momi ia he umikumamalua, hookahi puka, hookahi no ia momi. A o ke alanui o ua kulanakauhale la, he gula aiai e like me ke aniani olinolino.
22ỳ đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành.
22Aole au i ike aku he luakini maloko ona; no ka mea, o ka Haku o ke Akua mana loa, a me ke Keikihipa, oia ko laila luakini.
23Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành.
23Aole pono ka la ma ia kulanakauhale, aole hoi ka mahina, i mea e malamalama ai maloko; no ka mea, ua hoomalamalama mai ka nani o ke Akua ia wahi, a o ke Keikihipa, oia kona malamalama.
24Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó.
24A e hele na lahuikanaka i hoolaia ma ko laila malamalama; a e lawe aku no na'lii o ka honua i ko lakou nani a me ka hanohano maloko o ia wahi.
25Những cửa thành ban ngày không đóng, vì ở đó không có ban đêm.
25Aole e paniia kona mau puka i ke ao; aole hoi po malaila.
26Người ta sẽ đem vinh hiển và phú quí của các dân đến đó;
26A e lawe mai no lakou i ka nani a me ka hanohano o na lahuikanaka iloko ona.
27kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con.
27Aole hoi e komo aku iloko o ia wahi, kekahi mea haumia, aole he mea e hana ma ka ino, a me ka wahahee; o ka poe wale no i palapalaia iloko o ka buke o ke ola a ke Keikihipa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.