Gia-cơ
Chapter 1

Gia-cơ

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ, đạt cho mười hai chi phái ở tan lạc, chúc bình an!
1NA lakobo, he kauwa na ke Akua, a me ka Haku o Iesu Kristo, i ka poe ohana he umi a me kumamalua i hoopuehuia, Aloha oukou.
2Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,
2E na hoahanau o'u, e manao oukou, he mea olioli wale no, ke loohia oukou e kela mea keia mea e hoao mai ai;
3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.
3Ua ike no hoi oukou, o ka hoao ana mai i ko oukou manaoio, oia ka mea e mahuahua'i ke ahonui.
4Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.
4E hoomau oukou ma ka mea ku pono i ke ahonui, i lako oukou, a i hemolele hoi, aole wahi hemahema iki.
5Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
5Ina i nele kekahi o oukou i ke akamai, e noi aku oia i ke Akua i ka mea i haawi lokomaikai mai no na mea a pau me ka hoino ole mai, a e haawiia mai no ia nona.
6Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
6Aka, e noi aku oia me ka manaoio, aole me ke kanalua; no ka mea, o ka mea e kanalua ana, ua like no ia me ka ale o ke kai i puhiia e ka makani a kupikipikio.
7Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:
7Mai manao ia kanaka, e loaa mai ia ia kekahi mea na ka Haku mai.
8ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.
8O ke kanaka i lolelua ka naau, ua lauwili oia i kona mau aoao a pau.
9Anh em nào ở địa vị thấp hèn hãy khoe mình về phần cao trọng mình,
9O ka hoahanau haahaa, e hauoli ia i kona hookiekieia.
10kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.
10A o ka mea waiwai hoi, i kona hoohaahaaia; no ka mea, e like me ka pua o ka nahelehele e mae wale ana ia.
11Mặt trời mọc lên, nắng xẳng, cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tồi tàn: kẻ giàu cũng sẽ khô héo như vậy trong những việc mình làm.
11No ka mea, i ke kau ana mai o ka la me ka wela nui, aole emo a hoomaloo iho la no ia i ka nahelehele, a haule iho la kona pua, a pau ae la ka nani o kona ano: pela no e mae ai ka mea waiwai i kona aoao iho.
12Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.
12Pomaikai wale ke kanaka, ke ku paa ia i ka hoowalewaleia mai; no ka mea, a pau kona hoaoia mai, e loaa auanei ia ia ka lei o ke ola i oleloia mai ai e ka Haku no ka poe e aloha aku ana ia ia.
13Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Aáy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
13A o ka mea i hoowalewaleia mai, mai olelo ae ia, ua hoowalewaleia mai au e ke Akua; no ka mea, aole i hoowalewaleia ke Akua e ka hewa, aole loa hoi oia i hoowalewale mai i kekahi.
14Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình.
14Aka, ua hoowalewaleia kela mea keia mea ma kona kuko iho no, i ke alakaiia'ku a puni ia.
15Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.
15Aia hapai ke kuko, alaila, hanau mai ka hewa; a oo ka hewa, alaila, hoopukaia mai ka make.
16Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình:
16Mai kuhihewa, e o'u poe hoahanau aloha:
17mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.
17O na haawina maikai a pau a me na makana hemolele a pau, noluna mai ia i iho mai ai no ka Makua mai o ka malamalama, aole ona ano hou, aole loa ia e luli iki.
18Aáy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.
18No kona makemake iho i hoohanau mai ai oia ia kakou ma ka olelo oiaio, i lilo ae kakou i mau hua mua o ka poe ana i hana'i.
19Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;
19No ia mea, e o'u poe hoahanau aloha, e hiki wawe oukou ma ka lohe, e akahele hoi ma ka olelo ana aku, a e hoolohi hoi ma ka inaina aku:
20vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
20No ka mea, o ka inaina o ke kanaka, aole ia e hana ana i ka pono o ke Akua.
21Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em.
21No ia mea la, e pale aku oukou i ka haumia a pau, a me ka hu wale ana o ka ino, a e apo mai oukou me ke akahai i ka olelo i pakuiia, oia ka mea e hiki ai ke hoola i ko oukou poe uhane.
22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.
22E lilo hoi oukou i poe malama i ka olelo, aole i poe lohe wale no, e hoopunipuni ana ia oukou iho:
23Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương,
23No ka mea, ina i lohe wale kekahi i ka olelo, aole oia i malama aku, ua like no ia me ke kanaka e nana ana i kona helehelena iho ma ke aniani;
24thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.
24Nana no oia ia ia iho, a i ka hoi ana'ku, poina koke iho no ia i kona ano iho.
25Nhưng kẻ nào xét kĩ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.
25O ka mea e nana ae i ke kanawai hemolele o ke ola, a e ku paa malaila, aole e hoopoina wale i kana mea i lohe ai, aka, ua malama no ia i ka oihana; oia ka mea e pomaikai aua i kana hana ana.
26Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.
26Ina i manaoia kekahi he haipule ia, aole hoi oia e kaulawaha i kona alelo, aka, e hoopunipuni i kona naau iho, ua lapuwale kona haipule ana.
27Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.
27O ka haipule io a me ka haumia ole imua i ke alo o ke Akua o ka Makua, eia no ia; e ike i ka poe makua ole, a me ka poe wahinekanemake i ko lakou wa e pihkia ai, a e malama hoi ia ia iho i haumia ole ia i ko ke ao nei.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.