Hê 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách,
1O KE Akua, o ka mea i olelo pinepine mai i na wa kahiko i ka poe kupuna, me kela mea a me keia mea, ma ka poe kaula,
2rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian;
2Oia ka i olelo hou mai ia kakou i keia mau la muli iho nei ma ke Keiki, ka mea i hooliloia e ia i haku no na mea a pau, ma ona la hoi ia i hana'i i ka lani a me ka honua.
3Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao,
3Oia ka olinolino o kona nani, a me ka like loa o kona ano maoli, e hoomau ana i na mea a pau ma kana olelo mana iho, a, hoolilo iho la ia ia iho i mea e maemae ai ko kakou hewa, noho iho la ia ma ka lima akau o ka Moi maluna lilo;
4vậy được hưởng danh cao hơn danh thiên sứ bao nhiêu, thì trở nên cao trọng hơn thiên sứ bấy nhiêu.
4A ua hookiekieia'e maluna loa o na anela, e like me ka oi ana o ka maikai o kona inoa i loaa ia ia, mamua o ko lakou.
5Vả, Đức Chúa Trời há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Ngươi là Con ta, Ngày nay ta đã sanh ngươi? Lại há có khi nào phán: Ta sẽ làm Cha người, Người sẽ làm Con ta?
5No ka mea, o ka anela hea kana i olelo aku ai i kekahi manawa, O oe no ka'u Keiki, i keia la no ua hoohanau aku au ia oe? Eia hoi, E lilo au i Makua nona, a e lilo oia i Keiki na'u?
6Còn khi Ngài đưa Con đầu lòng mình vào thế gian, thì phán rằng: Mọi thiên sứ của Đức Chúa Trời phải thờ lạy Con.
6Eia hou hoi, i kona hookomo ana i ka makahiapo i ke ao nei, i iho la ia, E hoomana mai ka poe anela a pau o ke Akua ia ia.
7Nói về thiên sứ thì Ngài phán rằng: Đức Chúa Trời làm cho thiên sứ Ngài như gió, Và tôi tớ Ngài như ngọn lửa.
7A ua oleloia mai hoi no ka poe anela, Ua hoolilo oia i kona poe anela i mau makani, a i kana poe kauwa lawelawe i lapalapa o ke ahi.
8Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia, Quyền bính của nước Chúa là quyền bính ngay thẳng.
8Aka no ke Keiki, O kou nohoalii, e ke Akua, e mau loa ana no ia; a he hoailonamoi o ka pono ka hoailonamoi o kou aupuni.
9Chúa ưa điều công bình, ghét điều gian ác; Cho nên, hỡi Chúa, Đức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, Khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình.
9Ua makemake hoi oe i ka pono, a ua inaina i ka hewa; nolaila i poni ai ke Akua, kou Akua, ia oe me ka aila o ka olioli maluna o kou mau hoa.
10Lại có phán: Hỡi Chúa, ban đầu trước hết Chúa đã dựng nền đất, Và các từng trời cũng là công việc của tay Chúa.
10Eia hoi, i ka wa kahiko, ua hookumu oe, e ka Haku, i ka honua; a o na lani hoi ka hana a kou mau lima.
11Trời đất sẽ hư đi, nhưng Chúa hằng có; Trời đất sẽ cũ đi như cái áo;
11E pau ana no lakou, aka, e mau ana no oe; e lualua loa ana no lakou a pau me he kapa la;
12Ngài sẽ cuốn nó lại như cái áo choàng, Rồi trời đất sẽ biến đổi, Nhưng Chúa vẫn y nguyên, Các năm của Chúa không hề cùng.
12A e opiopi ana no oe ia lakou me he aahu la, a e lilo aku; aka, e oia mau ana no oe, a o kou mau makahiki, aole loa e pau.
13Đức Chúa Trời há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chân ngươi?
13O ka anela hea kana i olelo aku ai i kekahi manawa, E noho oe ma ko'u lima akau, a hoolilo iho au i kou mau enemi i paepae wawae non?
14Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?
14Aole anei lakou a pau he poe uhane lawelawe i hoounaia, e kokua i ka poe e lilo ana i poe hooilina o ke ola?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.