Hê 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.
1O KA manaoio, o ka hilinai ana no ia ma na mea i manaolanaia'i, a o ka hoomaopopo ana hoi o na mea i ike maka ole ia.
2Aáy là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt.
2No ia hoi, i hoaponoia mai ai ka poe kahiko.
3Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến.
3Ma ka manaoio na ike kakou ua hanaia ka lani a me ka honua e ka olelo a ke Akua, o na mea i nanaia, aole no loko mai o na mea i ikeia.
4Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
4Ma ka manaoio i kaumaha aku ai o Abela i ke Akua i ka mohai maikai aku i ko Kaina, malaila hoi i hoaponoia'i oia he pono, oia ka ke Akua hoike ana mai no kona alana; malaila hoi ke olelo nei oia ka mea i make.
5Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi.
5No ka manaoio i lawe ola ia'ku o Enoka, me ka ike ole i ka make; aole ia i ike hou ia, no ka mea, ua lawe ola aku ke Akua ia ia. A ua hoaponoia oia no kona hooluolu ana i ke Akua mamua aku o kona laweia'ku.
6Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
6Aka, he mea hiki ole ke hooluolu i ke Akua me ka manaoio ole; no ka mea, o ka mea e hele ana i ke Akua, e pono no e manaoio oia, he mea io no ia, a, he mea hoi e uku mai ana i ka poe i imi ikaika ia ia.
7Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy.
7Ma ka manaoio o Noa i aoia'i e ke Akua no na mea i ike maka ole ia, ua hoomakaukau oia me ka makau, i halelana e ola'i kona hale; ma ia mea hoi ia i hoahowa aku ai i ko ke ao nei, a ua loaa ia ia ka hoapono ana no ka manaoio.
8Bởi đức tin, Aùp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu.
8Ma ka manaoio hoi i hoolohe ai o Aberahama, i ka wa i heaia mai ai e hele aku i kahi e loaa mai ai ia ia ka noho ana; a hele aku la ia me ka ike ole i kona wahi i hele ai.
9Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người.
9Ma ka manaoio i noho malihini ai oia i ka aina i olelo mua ia'i, ka aina o ka poe e, e noho ana ia iloko o na halelewa, me Isaaka a me Iakoba, na hooilina pu me ia no ka mea hookahi i hai mua ia mai ai:
10Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập.
10No ka mea, ua imi aku ia i ke kulanakauhale i hookumuia, a o kona mea nana i hana, a i kukulu hoi, o ke Akua ia.
11Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái được, vì người tin rằng Đấng hứa cho mình điều đó là thành tín.
11Ma ka manaoio i loaa'i ia Sara ka ikaika e hapai keiki ai, a hanau mai, mahope iho o ka manawa maoli o kona ola ana, no kona manao ana i ka oiaio o ka mea nana i hai mua mai.
12Cũng vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được.
12Nolaila i laha mai ai mai kela mea hookahi, a o ua mea la me he mea make la, ka poe mamo e like me na hoku o ka lani ka lehulehu, a me ke one ma kahakai aole pau i ka heluia.
13Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất.
13A make aku la kela poe a pau, iloko o ka manaoio, aole hoi i loaa ia lakou na mea i oleloia mai, aka, i ko lakou ike ana ia mau mea i kahi loihi, ua manaoio a paulele ilaila, a ua hai aku ia lakou iho, he poe kanaka e, he poe malihini ma ka honua.
14Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm nơi quê hương.
14A o ka poe i hai aku pela, ua hoike maopopo lakou i ko lakou imi ana i wahi e noho ai.
15Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại,
15No ka mea, ina i manao lakou i kela aina a lakou i haalele ai, ua hiki no ia lakou ke hoi aku ilaila.
16nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
16Aka, na makemake lakou i aina maikai aku, oia o ko ka lani. No ia mea, aole ke Akua i hilahila ia lakou ke kapaia oia he Akua no lakou; no ka mea, ua hoomakaukau oia i kulanakauhale no lakou.
17Bởi đức tin, Aùp-ra-ham dâng Y-sác trong khi bị thử thách: người là kẻ đã nhận lãnh lời hứa, dâng con một mình,
17Ma ka manaoio i kaumaha aku ai o Aberahama ia Isaaka i kona wa i hoaoia mai ai; a o ka mea nona ka pono i hai mua ia mai, ua mohai aku la oia i kana keiki hookahi;
18là về con đó mà Đức Chúa Trời có phán rằng: Aáy bởi trong Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi lấy tên ngươi mà kêu.
18Ia ia hoi ka olelo ana mai, E kapaia'ku kau mau mamo. mamuli o Isaaka.
19Người tự nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình.
19Ua manao hoi ia, e hiki i ke Akua ke hoala mai ia ia mai ka make mai; mai laila mai hoi, i loaa ai oia ia ia ma ke aka.
20Bởi đức tin, Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những sự hầu đến.
20Ma ka manaoio i hoomaikai aku ai o Isaaka ia Iakoba a me Esau no na mea e hiki mai ana.
21Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần chết, chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương trên gậy mình mà lạy.
21Ma ka manaoio i hoomaikai aku ai o Iakoba i na keiki elua a Iosepa i kona wa e kokoke i ka make; a kulou iho la ia maluna o ke poo o kona kookoo.
22Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, và truyền lịnh về hài cốt mình.
22Ma ka manaoio, i ka pau ana o kona ea, i olelo ai o Iosepa i ka hele ana'ku o na mamo a Iseraela; a ua kauoha aku la no kona mau iwi.
23Bởi đức tin, khi Môi-se mới sanh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua.
23Ma ka manaoio i hunaia'i o Mose i na malama ekolu e kona mau makua mahope iho o kona hanau ana, no ko laua ike ana he keiki maikai ia; aole hoi laua i makau i ke kauoha a ke alii.
24Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn,
24Ma ka manaoio i ae ole aku ai o Mose i kona wa oo e kapaia mai he keiki na ke kaikamahine a Parao;
25đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi:
25E koho ana ma ka pilikia pu me ko ke Akua poe kanaka, aole ma ka lealea pau koke o ka hewa;
26người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng.
26E manao ana hoi i ka hoino ana a Kristo i hoinoia'i he waiwai ia e oi aku ana mamua o ko Aigupita waiwai; no ka mea, ua manao aku oia i ka hoonkuia mai.
27Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được.
27Ma ka manaoio no oia i haalele ai ia Aigupita, me ka makau ole aku i ka huhu o ke alii; no ka mea, ua ku paa oia me he mea la e ike maoli ana i ka mea i ike maka ole ia.
28Bởi đức tin, người giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên.
28Ma ka manaoio hoi oia i malama ai i ka moliaola, a me ka pipi ana o ke koko, i ole ai e hoopa mai ia lakou ka mea nana i luku mai i na makahiapo.
29Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó.
29Ma ka manaoio i hele ai lakou mawaena o ke Kaiula me he hele ana la ma ka aina maloo, ka mea a ko Aigupita i hoao ai a make iho la i ke kai.
30Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống, sau khi người ta đi vòng quanh bảy ngày.
30No ka manaoio i hiolo ai na pa o Ieriko, i ka pau o ka hoopuni ana i na la ehiku.
31Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám.
31No ka manaoio i make pu ole ai o Rahaba ka wahine hookamakama me ka poe hoomaloka, mahope iho o kona hookipa ana i na kiu me ke aloha.
32Ta còn nói chi nữa? Vì nếu ta muốn nói về Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các đấng tiên tri, thì không đủ thì giờ.
32A heaha hoi ka'u e olelo hou aku ai? No ka mea, e pau e no kuu manawa ke hai aku i ka Gideona a me Baraka, a me Samesona a me Iepeta, a me Davida hoi, a me Samuela, a me ka poe kaula;
33Những người đó bởi đức tin đã thắng được các nước, làm sự công bình, được những lời hứa, bịt mồm sư tử,
33Ka poe nana ma ka manaoio i hoopio ai i na aupuni, i hoopai ai hoi ma ka pono, i loaa ai hoi he mau pono i hai mua ia mai, i papani ai hoi i na waha o na liona,
34tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn.
34I hoopio ai hoi i ka wela o ke ahi, i pakele ai hoi i ka maka o ka pahikaua, i hooikaikaia'i hoi i ka nawaliwali ana, a i lilo ai hoi i poe ikaika i ke kana, i auhee ai hoi ka poe kaua o na aina e.
35Có người đàn bà đã được người nhà mình chết sống lại, có kẻ bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu, để được sự sống lại tốt hơn.
35Ua loaa hou i na wahine ma ke alahouana, ko lakou poe make; ua hoehaehaia kekahi poe, aole nae i ae lakou i ka hookuu ana, i loaa mai ia lakou ke alahou maikai ae.
36Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích lao tù nữa.
36A ua hoaoia kekahi poe me ka hoomaewaewaia, a me ka hahau ana, a me ka hoopea ana, a me ka paa ana i ka halepaahao;
37Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi,
37Ua hailukuia lakou; ua oloia a kaawale; ua hoowalewaleia; ua pepehi wale ia me ka pahikaua; ua kaahele lakou me na aahu ili hipa, a me na ili kao, me ka ilihune, a me ka popilikia, a me ke koloheia;
38thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất.
38Aohe pono ko ke ao nei e like me ko lakou; ua auwana ma na waonahele, a ma na mauna, a ma na ana hoi, a me na lua o ka honua.
39Hết thảy những người đó dầu nhân đức tin đã được chứng tốt, song chưa hề nhận lãnh điều đã được hứa cho mình.
39A o ua poe a pau, ka poe i hoaponoia no ko lakou manaoio, aole i loaa ia lakou ka pono i haiia mai;
40Vì Đức Chúa Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta, hầu cho ngoại chúng ta ra họ không đạt đến sự trọn vẹn được.
40Na ke Akua i hoomakaukau i ka pono nui no kakou, aole i loaa ia lakou ka hooko loa ana o ka mea e pono ai, ke ole kakou.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.