Hê 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.
1Tanghaih loe oep ih hmuen oh tangtang, tiah hnukhaih ah oh moe, hnuk ai ih hmuen to oh, tiah panoekthaihaih ih to ni.
2Aáy là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt.
2Hae pongah ni canghnii ih kacoehtanawk mah pakoehhaih to hnuk o.
3Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến.
3Long ah kaom hmuennawk loe Sithaw ih lok hoiah ni sak, tito tanghaih rang hoiah a panoek o; a hnuk o ih hmuennawk loe kamtueng hmuennawk hoiah sak ih na ai ni.
4Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
4Tanghaih rang hoiah ni Abel mah Kain pongah kahoih kue hmuen to Sithaw khaeah paek, to tiah hmuenpaekhaih rang hoiah anih loe kami katoeng ni, tito amtuengsak, anih mah paek ih tangqumnawk loe Sithaw mah talawk pae: anih loe duek boeh, toe vaihi khoek to lok a thuih vop.
5Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi.
5Tanghaih rang hoiah ni Enok loe duekhaih pataeng han ai ah lak ving ah oh; anih loe Sithaw mah lak ving boeh pongah, hnu thai ai boeh; anih to la ving ai naah, anih loe Sithaw palung tongh kami, tiah thuihaih to a hnuk.
6Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
6Toe tanghaih om ai ah loe Sithaw palung anghoesak thai ai: Sithaw khaeah angzo kami mah Sithaw loe oh, Anih loe loktang hoi Anih pakrong kaminawk khaeah tangqum paekkung ah oh, tiah tang han angaih.
7Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy.
7Tanghaih rang hoiah ni Noah loe, hnuk vai ai ih angzo han koi hmuen to Sithaw mah thuih pae coek, Sithaw zithaih hoiah khosak pongah, angmah ih imthung takoh kaminawk pahlong hanah palong to a thuk; a tanghaih rang hoiah long kaminawk to lokcaek moe, tanghaih rang hoiah toenghaih qawk toepkung ah oh.
8Bởi đức tin, Aùp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu.
8Qawktoep han ih prae ah caeh hanah Abraham to kawk naah, anih mah naa ah maw a caeh, tito panoek ai, tanghaih rang hoiah ni Anih ih lok to tahngaih moe a caeh.
9Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người.
9Tanghaih rang hoiah ni lokkam ih prae ah kholong a caeh moe, angvin baktiah a oh, angmah hoi kanghmong lokkamhaih qawktoep koi Isak, Jakob hoi nawnto kahni imthung ah a oh:
10Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập.
10Abraham loe Sithaw mah sak ih, angdoethaih kaom kacak vangpui to ni pakrong.
11Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái được, vì người tin rằng Đấng hứa cho mình điều đó là thành tín.
11Tanghaih rang hoiah ni Sarah mah doeh lokkamhaih paek, Anih loe oepthoh, tiah panoek moe, mitong pacoengah zokpom hanah, thacakhaih to a hnuk.
12Cũng vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được.
12Kadueh hoi kanghmong, anih maeto khae hoiah ni, van cakaeh zetto kapop, tuipui taeng ih kroek laek ai savuet baktiah angpung o.
13Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất.
13Hae kaminawk loe lokkamhaih hnu ai ah duek o boih, toe palung thung hoiah panoek o moe, pakuem o; to hmuennawk to kangthla ahmuen hoiah a danh o, nihcae mah kaicae loe long nuiah angvin hoi kholong caeh kami ah ni ka oh o, tiah panoek o.
14Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm nơi quê hương.
14To tiah lokthui kaminawk mah nihcae loe angmacae ohhaih prae to ni pakrong o, tito amtueng o sak.
15Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại,
15Nihcae mah angmacae tacawthaih prae to poek o nahaeloe, to prae ah amlaem thaihaih atue karaem to hnu o tih boeh.
16nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
16Toe vaihi loe nihcae mah kahoih kue, van ah kaom prae to a koeh o; to pongah Sithaw mah kai loe nihcae ih Sithaw ah ka oh, tiah thuih han azat ai: Sithaw mah nihcae ohhaih vangpui to paroep pae boeh.
17Bởi đức tin, Aùp-ra-ham dâng Y-sác trong khi bị thử thách: người là kẻ đã nhận lãnh lời hứa, dâng con một mình,
17Abraham mah tanoekhaih tongh naah, tanghaih rang hoiah ni Isak to a paek: to tiah Sithaw lokkamhaih kahnuh Abraham mah maeto khue a tawnh ih a capa to a paek kik,
18là về con đó mà Đức Chúa Trời có phán rằng: Aáy bởi trong Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi lấy tên ngươi mà kêu.
18anih kawng pongah, Nang ih atii loe Isak khae hoiah ni kroek tih, tiah thuih ih lok to oh:
19Người tự nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình.
19Sithaw mah loe kadueh kami to pathawk thaih, tiah anih mah tang; to pongah patahhaih baktiah duekhaih thung hoiah angthawk let a capa to anih mah hnuk.
20Bởi đức tin, Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những sự hầu đến.
20Tanghaih rang hoiah ni angzo han koi hmuennawk pongah, Isak mah Jakob hoi Esau to tahamhoihaih paek.
21Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần chết, chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương trên gậy mình mà lạy.
21Tanghaih rang hoiah ni Jakob mah duek tom naah, Joseph ih caanawk to tahamhoihaih paek; angmah ih cunghet pongah amha moe, Sithaw to a bok.
22Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, và truyền lịnh về hài cốt mình.
22Tanghaih rang hoiah ni Joseph mah duek tom naah, Israel kaminawk tacawthaih kawng hoi angmah ih ahuh kawng to a thuih.
23Bởi đức tin, khi Môi-se mới sanh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua.
23Mosi tapen naah, tanghaih rang hoiah ni kranghoih nawkta, tiah a hnuk o naah, siangpahrang lokpaekhaih zii ai ah, amno hoi ampa mah khrah thumto thungah hawk hoi ving.
24Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn,
24Tanghaih rang hoiah ni Mosi loe saning akoep pacoengah, Faro canu ih capa ah oh han koeh ai;
25đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi:
25zae koehhaih thungah atue setta thung kanawm acaeng pongah loe, anih mah Sithaw kaminawk hoi nawnto patangkhanghaih to qoih lat;
26người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng.
26Kri pongah kasae thuihaih loe, Izip prae ih tacongnawk pongah atho oh kue, tiah a poek moe, a hnuk han koi tangqum to a khet lat.
27Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được.
27Tanghaih rang hoiah ni siangpahrang palungphuihaih to zii ai ah, Izip prae to a caehtaak: hnuk thai ai ih Sithaw to a hnuk thaih pongah, pauephaih hoiah khosak.
28Bởi đức tin, người giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên.
28Tanghaih rang hoiah ni misong loihaih poih hoi athii pathaekhaih to a sak, to tih ai nahaeloe calu humkung Anih mah Israel kaminawk to hum tih.
29Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó.
29Tanghaih rang hoiah ni nihcae mah, tuipui kathim to saoeng ah caeh baktiah a caeh o: Izip kaminawk mah to tiah caeh o toeng han amsak o naah loe, tui mah nihcae to uem boih.
30Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống, sau khi người ta đi vòng quanh bảy ngày.
30Tanghaih rang hoiah ni Jeriko tapang to ni sarihto takui o pacoengah amtimh rup.
31Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám.
31Tanghaih rang hoiah ni tangzat zaw Rahap loe tamquta hoi misa khen kaminawk to oephaih hoiah talawk moe, katang ai kaminawk hoi nawnto anghmaa ai.
32Ta còn nói chi nữa? Vì nếu ta muốn nói về Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các đấng tiên tri, thì không đủ thì giờ.
32To khue ai timaw ka thuih bae han vop? Gideon, Barak, Samson, Japhet, David, Samuel hoi tahmaanawk kawng to ka thuih nahaeloe, atue mah khawt mak ai:
33Những người đó bởi đức tin đã thắng được các nước, làm sự công bình, được những lời hứa, bịt mồm sư tử,
33tanghaih rang hoiah ni nihcae mah praenawk to lak o, toenghaih to a sak o pongah lokkamhaih to a hnuk o moe, kaipui pakha to tamuep o,
34tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn.
34tha kaom hmaipalai to paduek o, aha kanoe sumsen thung hoiah a loih o, thacak ai thung hoiah thacakhaih to a tawnh o pongah, acaeng kalah misanawk to a haek o.
35Có người đàn bà đã được người nhà mình chết sống lại, có kẻ bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu, để được sự sống lại tốt hơn.
35Nongpatanawk mah kangthawk let kadueh a caa to hnuk o: kalah kaminawk loe pacaekthlaekhaih tongh o, kahoih kue angthawk lethaih to hnuk o hanah, loihaih to koeh o ai.
36Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích lao tù nữa.
36Thoemto kaminawk loe pahnui thuihaih hoi bohhaihnawk to tong o, ue, sumqui hoiah pathlet o moe, thongim ah pakhrak o:
37Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi,
37nihcae to thlung hoiah vah o moe, sarang hoiah aah o pat, hraem o moe, sumsen hoiah hum o: amtanghaih, patangkhanghaih, pacaekthlaekhaih hoiah oh o moe, tuu hin hoi maeh hin angkhuk hoiah amhet o;
38thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất.
38(nihcae hanah loe long hae atho om ai:) nihcae loe praezaek hoi mae nuiah amhet o moe, tahawt hoi thlungkhaw thungah khosak o.
39Hết thảy những người đó dầu nhân đức tin đã được chứng tốt, song chưa hề nhận lãnh điều đã được hứa cho mình.
39Tanghaih rang hoiah ni hae kaminawk boih mah pakoehhaih to hnuk o, toe lokkamhaih loe hnu o ai:
40Vì Đức Chúa Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta, hầu cho ngoại chúng ta ra họ không đạt đến sự trọn vẹn được.
40Sithaw mah aicae hanah kahoih kue hmuen ang suek pae pongah, aicae ai ah loe nihcae mah akoephaih hnu o thai mak ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.