Hê
Chapter 7
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vả, Mên-chi-xê-đéc đó là vua của Sa-lem, thầy tế lễ của Đức Chúa Trời rất cao, đã đi rước Aùp-ra-ham và chúc phước cho, trong khi người thắng trận các vua trở về;
1Hae Melkhizedik loe Salem siangpahrang ah oh moe, kasang koek Sithaw ih qaima ah oh, siangpahrangnawk hum pacoengah kamlaem Abraham to anih mah hnuk naah tahamhoihaih a paek;
2Aùp-ra-ham đã lấy một phần mười về mọi của cải mình mà dâng cho vua; theo nghĩa đen tên vua ấy, trước hết là vua sự công bình, lại là vua của Sa-lem nữa, nghĩa là vua bình an;
2Abraham mah anih khaeah hato thungah maeto paek; hmaloe koekah anih ih ahmin thuih koehhaih loe toenghaih Siangpahrang, tiah oh, to pacoengah Salem Siangpahrang loe angdaehhaih Siangpahrang, tiah doeh kawk ih to oh;
3người không cha, không mẹ, không gia phổ; không có ngày đầu mới sanh, cũng không có ngày rốt qua đời, như vậy là giống Con Đức Chúa Trời, -Mên-chi-xê-đéc nầy làm thầy tế lễ đời đời vô cùng.
3amno kaom ai, ampa kaom ai, acaeng anghumhaih kawng doeh katawn ai, amtonghaih ni kaom ai, kaboeng thaih hinghaih doeh katawn ai; Sithaw Capa baktih toengah, dungzan qaima ah oh poe.
4Hãy nghĩ xem, chính tiên tổ là Aùp-ra-ham đã lấy một phần mười trong những vật rất tốt của mình chiếm được mà dâng cho vua, thì vua tôn trọng là dường nào.
4Hae kami loe kawkruk maw len, tito poek oh, Cunkung Abraham mah mataeng doeh a lak ih hmuennawk hato thungah maeto anih khaeah paek.
5Những con cháu họ Lê-vi chịu chức tế lễ, theo luật, có phép thâu lấy một phần mười của dân, nghĩa là của anh em mình, vì chính họ cũng từ Aùp-ra-ham mà ra.
5Qaima toksah Levi caanawk loe Abraham atii hoi tacawt kami ah oh o, kaminawk loe angmacae ih nawkamya ah oh o; toe kaalok baktiah nihcae khae hoi hato thungah maeto lakthaihaih akaa to tawnh o.
6Nhưng vua vốn không phải đồng họ, cũng lấy một phần mười của Aùp-ra-ham và chúc phước cho kẻ được lời hứa.
6Toe Anih loe Levi caa ah om ai, toe Abraham khae hoiah hato thungah maeto a lak moe, lokkamhaih kahnuh Abraham to tahamhoihaih paek.
7Vả, người bực cao chúc phước cho kẻ bực thấp, ấy là điều không cãi được.
7Palunghaenghaih tawn ai, kalen kue mah ni kathoeng kue hanah tahamhoihaih to paek.
8Lại, đằng nầy, những kẻ thâu lấy một phần mười đều là người hay chết: còn đằng kia, ấy là kẻ mà có lời làm chứng cho là người đang sống.
8Hae ah loe kadueh thaih kaminawk mah hato thungah maeto lak o; ho ah loe Anih loe hing, tiah thuih ih Melkhizedik mah ni hato thungah maeto lak.
9Lại có thể nói rằng Lê-vi là kẻ thâu lấy một phần mười đó, chính mình người cũng bởi Aùp-ra-ham mà đóng một phần mười;
9Hato thungah maeto la kami Levi loe Abraham rang hoiah hato thungah maeto paek, tiah thuih han oh.
10vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.
10Abraham mah Melkhizedik to hnuk naah, Levi loe ampa ih takpum thungah ni oh vop.
11Nếu có thể được sự trọn vẹn bởi chức tế lễ của người Lê-vi (vì luật pháp ban cho dân đang khi còn dưới quyền chức tế lễ), thì cớ sao còn cần phải dấy lên một thầy tế lễ khác, lập theo ban Mên-chi-xê-đéc, không theo ban A-rôn?
11Levinawk mah qaima toksakhaih rang hoiah akoephaih hnu o nahaeloe, (anih khae hoiah ni kaminawk mah kaalok to hnuk o) tipongah Aaron baktiah kawk ai ah, Melkhizedik baktiah kalah qaima angzoh han angai vop loe?
12Chức tế lễ đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi.
12Qaima angthlaeng pongah, kaalok doeh angthlaeng han oh.
13Vả, Đấng mà những lời đó chỉ về, thuộc một chi phái khác, trong chi phái đó chưa từng có ai dự việc nơi bàn thờ.
13Hae hmuennawk pongah thuih ih Anih loe kalah acaeng kami ah oh, to acaeng thung hoiah loe mi doeh hmaicam ah toksah o vai ai vop.
14Vì thật rõ ràng Chúa chúng ta ra từ Giu-đa, về chi phái ấy, Môi-se không nói điều chi về chức tế lễ.
14Aicae Angraeng loe Judah kaminawk thung hoiah ni tacawt, tito amtueng; toe Mosi mah to kaminawk thung hoiah kaom han koi qaima toksakhaih kawng to thui ai.
15Mọi điều đó càng thêm rõ hơn nữa, khi chúng ta thấy một thầy tế lễ khác dấy lên, giống như Mên-chi-xê-đéc,
15Melkhizedik baktiah kaom kalah qaima to tacawt nahaeloe, qaima acaeng angthlaeng ving boeh, tito amtueng boeh.
16lập lên không theo luật lệ của điều răn xác thịt, nhưng theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết.
16Anih loe taksa koehhaih daan baktiah angzo ai, kaboeng kanghmang tha kacak hinghaih hoiah ni angzoh.
17Vả, nầy là lời làm chứng cho Ngài rằng: Con làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.
17Nang loe Melkhizedik baktiah, dungzan qaima ah na oh, tiah thuih ih lok to oh.
18Như vậy, điều răn trước kia vì không quyền không ích nên đã bị bỏ rồi;
18Kaom hmaloe kaalok loe thazok moe, atho om ai pongah, takhoe ving boeh.
19bởi chưng luật pháp không làm trọn chi hết, lại có một sự trông cậy hay hơn đem vào thay cho luật pháp, và bởi sự trông cậy đó chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.
19Kaalok mah loe akoephaih tidoeh paek ai, toe kahoih kue oephaih to ohsak, to oephaih rang hoiah ni aicae mah Sithaw khaeah anghnaih o.
20Vả lại, sự thay đổi nầy chẳng phải là không có lời thề mà được làm ra. Những thầy tế lễ khác không bởi lời thề mà được lập lên,
20Anih loe lokkamhaih om ai ah qaima tok to sah ai:
21nhưng Ngài đã được lập lên bằng lời thề, bởi Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi, và không hối lời thề ấy đâu; Con làm thầy tế lễ đến đời đời.
21(kalah qaimanawk loe to baktih lokkamhaih sah ai ah qaima tok to sak o; toe Melkhizedik mah thuih ih lok baktih toengah, Nang loe dungzan qaima ah na oh, tiah Sithaw mah anih khaeah lokkamhaih sak boeh pongah, anih loe qaima tok to sak, Angraeng mah sak ih lokkamhaih loe amkhrai mak ai:)
22Vì thế, Đức Chúa Jêsus đã trở nên Đấng bảo lãnh cho một cái giao ước rất tôn trọng hơn cái trước.
22Jesu mah loe kahoih kue kacak lokmaihaih to sak.
23Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ.
23Nihcae loe duekhaih mah kae pongah qaima pop o parai:
24Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay.
24toe hae Kami loe hing poe pongah, amkhrai thai ai qaima ah oh.
25Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.
25To pongah Sithaw khaeah angzo kaminawk to Anih rang hoiah pahlong thaih, nihcae han toksak pae hanah Anih loe dungzan ah hing poe.
26Aáy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời:
26To tiah kaom Qaima loe coek koi om ai, ciimcai, amhnong ai, kazae kaminawk thung hoiah amhoe moe, van pongah a sang kue;
27không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân; Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ.
27kalah qaimanawk loe angmacae zaehaih baktih toengah angmah hanah zae angbawnhaih sak hmaloe pacoengah, nithokkruek kaminawk hanah angbawnhaih sak pae han angaih, toe anih loe nithokkruek angbawnhaih sak han angai ai, Anih loe angmah hoi angmah angpaek naah vaito ah a sak king boeh.
28Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm; nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng đã nên trọn lành đời đời.
28Kaalok mah loe thacak ai kaminawk ni qaima tok to saksak, toe kaalok pacoengah angzo lokkamhaih mah loe, dungzan ah kakoep Capa to ni a saksak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.