Hê 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ước trước cũng có những luật về việc thờ phượng và một nơi thánh dưới đất.
1Kaom tangsuek lokmaihaih pongah loe Sithaw bokhaih atawknawk hoi long nuiah kaom bokhaih hmuenciim to oh.
2Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhất gọi là nơi thánh, có chân đèn, bàn và bánh bày ra;
2Kahni im to sak o; hmaloe koek ih kahni imthung ah loe hmai paaanghaih, caboi hoi takaw to oh; to ahmuen to ciimcai ahmuen, tiah kawk o.
3rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
3Hnetto haih payang ih kahni hnukbangah loe Ciimcai Koek, tiah kawk ih kahni im to oh;
4có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước;
4to ahmuen ah loe hmuihoih thlaekhaih sui sabae, sui hoi pazut ih lokmaihaih thingkhong to oh, to thingkhong thungah manna suekhaih sui laom, tadok tacawt Aron ih cunghet hoi lokmaihaih thlung kangphaek to oh;
5phía trên có hai chê-ru-bin vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội. Nhưng đây không phải dịp kể các điều đó cho rõ ràng.
5to thingkhong nuiah loe lensawk Cherubim mah khuk ih palungnathaih Angraeng tangkhang to oh; to hmuennawk kawng loe vaihi kakoep ah a thui o thai mak ai vop.
6Các vật đã sắp đặt như vậy, hằng ngày những thầy tế lễ vào phần thứ nhất trong đền tạm, đặng làm trọn việc tế lễ;
6Hmuennawk boih hae tiah paroep pacoengah, qaimanawk loe Sithaw toksak hanah hmaloe koek ih kahni im thungah a caeh o toepsoep.
7nhưng, phần thứ hai, thì mỗi năm một lần chỉ một mình thầy tế lễ thượng phẩm vào, chẳng bao giờ mà không đem huyết dâng vì chính mình và vì sự lầm lỗi dân chúng.
7Toe qaima khue ni saningto naah vaito hnetto haih kahni imthungah akun thaih, qaima mataeng doeh angmah ih zaehaih hoi kaminawk ih sakpazaehaih to loihsak hanah, athii sin ai ah loe akun ai:
8Đức Thánh Linh lấy đó chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhất đang còn, thì đường vào nơi rất thánh chưa mở.
8hmaloe koek ih kahni im oh nathung, Ciimcai Koek ahmuen thungah akunhaih loklam to amtueng ai vop, tiah Kacai Muithla mah hnuksak:
9Aáy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm.
9to kahni im loe vaihi thuem ah kaom hmuen to hnuksak ih ni, tangqum paekhaih hoi angbawnhaih mah kasae kahoih panoekhaih palung to ciimsak ai, to tiah Sithaw bokhaih toksah kami to doeh akoephaih paek ai;
10Đó chẳng qua là mạng lịnh của xác thịt, cũng như các lễ ăn, uống, rửa sạch, chỉ lập cho đến kỳ hoán cải vậy.
10to baktih caakhaih, naekhaih, congca ciimcaihaih, taksa hoi kasaeng toksakhaih atawk kangquem loe pakhraihaih kangtha om ai nathung khue ni oh.
11Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy;
11Kri loe kami mah ban hoi sak ih na ai, hae im doeh na ai, kalen kue moe, kakoep kue kahni im thungah kaom han koi kahoih hmuennawk ih qaima ah ni angzoh,
12Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.
12Anih loe maeh thii hoi maitaw caa athii hoiah na ai ah, angmah ih athii hoiah ciimcai ahmuen thungah vaito akunh moe, aicae hanah dungzan akranghaih to hnuk.
13Vì nếu huyết của dê đực bò đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay,
13Ciimcai ai kaminawk nuiah maitaw tae ih athii, maeh thii hoi maitaw amno ih maiphu haehhaih mah nihcae ih takpum to ciimsak nahaeloe,
14huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!
14coek koi kaom ai dungzan Muithla rang hoiah angmah hoi angmah Sithaw khaeah kangpaek, Kri ih athii mah cae loe kawkruk maw, kahing Sithaw ih toksak hanah kadueh toksakhaih thung hoiah kasae kahoih panoekhaih palung to ciimsak aep tih?
15Nhân đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình.
15To pongah duekhaih rang hoiah kaom hmaloe lokmaihaih tlim ah kaom kaminawk ih zaehaih to akrang moe, kawk ih kaminawk mah dungzan lokmaihaih qawk toep o thai hanah, anih loe lokmaihaih kangtha Laicaeh ah oh.
16Vì khi có chúc thơ, thì cần phải đợi đến kẻ trối chết đã.
16Hmuenmae pongah lokmaihaih sak naah doeh a koehhaih to caksak hanah, lokmaihaih sahkung duekhaih to patuek han angaih.
17Chúc thơ chỉ có giá trị sau lúc chết, vì hễ kẻ trối còn sống thì nó không có quyền gì.
17To lokmaihaih sahkung hing nathung, lokmaihaih loe cak thai ai vop: kami to duek pacoengah ni lokmaihaih to caak vop.
18Aáy vậy, chính giao ước trước nào chẳng phải là không dùng máu mà lập.
18To pongah hmaloe lokmaihaih mataeng doeh athii hoiah ni caksak.
19Lúc Môi-se phán mọi điều răn của luật pháp cho dân chúng, có lấy máu của bò con và dê đực, với nước, dây nhung đỏ tía và nhành ngưu tất rảy trên sách cùng trên cả dân chúng,
19Mosi mah kaminawk boih khaeah kaalok to kroek pae naah, maitaw caa athii, maeh athii, tui, kamling tuumui hoi hyssop thing tanghang to lak pacoengah, Cabu hoi kaminawk boih to athii hoiah a haeh,
20mà nói rằng: Nầy là huyết của sự giao ước mà Đức Chúa Trời đã dạy lập với các ngươi.
20anih mah, hae loe Sithaw mah nangcae khaeah paek ih lokmaihaih athii ah oh, tiah a thuih pae.
21Đoạn, người cũng lấy huyết rảy đền tạm cùng mọi đồ thờ.
21To baktih toengah kahni im hoi toksakhaih hmuenmaenawk boih doeh athii hoiah a haeh pae.
22Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
22Kaalok baktih toengah hmuennawk boih athii hoiah ni pasaeh, athii long ai ah loe zae tahmenhaih to om ai.
23Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
23To pongah van ah kaom hmuennawk ih tahlip ah kaom hmuen mataeng doeh hae tiah angbawhaih rang hoiah ciimsak han angaih nahaeloe, van ah kaom tangtang hmuennawk cae loe kahoih kue angbawnhaih hoiah ciimsak han oh.
24Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
24Kri loe loktang ih tahlip ah kaom, ban hoi sak ih kaciim ahmuen ah akun ai; aicae zuengah Sithaw hmaa ah amtueng hanah, van thungah ni akunh:
25Aáy chẳng phải là dâng chính mình Ngài nhiều lần, như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào trong nơi rất thánh mà dâng huyết không phải là huyết mình;
25qaima mah Kaciim Koek ahmuen ah kalah athii hoiah saning kruek akun baktih toengah, Anih loe angmah hoi angmah angpaek hanah vaihi hoi vaihi akun ai;
26bằng chẳng vậy, thì từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi. Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.
26to tiah vaihi hoi vaihi angpaek nahaeloe, anih loe long oh tangsuek nathuem hoi vai nazetto maw dueh tih boeh: toe vaihi loe angmah hoi angmah angpaekhaih rang hoiah, zaehaih ciimsak hanah, long tue boeng naah vaito ah amtueng kang boeh.
27Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,
27Kami loe vaito ni dueh tih, to pacoengah lokcaekhaih to om tih:
28cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.
28to baktih toengah Kri loe paroeai kaminawk ih zaehaih to phawh hanah, angmah hoi angmah vaito ah angpaek kang boeh; to pacoengah loe Anih mah zaehaih ciimsak han ih na ai ah, Anih zing kaminawk pahlong hanah, amtueng let bae vop tih.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.