Hê 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vậy, đang khi còn có lời hứa cho vào sự yên nghỉ Chúa, hãy lo sợ, kẻo trong chúng ta có ai bị trừ ra chăng.
1NO ia hoi, i ka waiho ana mai o ka olelo mua no ke komo ana iloko o kona wahi maha, e ao kakou o loaa ole ia i kekahi o oukou.
2Vì tin lành nầy đã rao truyền cho chúng ta cũng như cho họ; những lời họ đã nghe không ích chi hết, vì trong khi nghe, chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình.
2No ka mea, ia kakou kekahi i haiia mai ka euanelio e like me ia ia lakou; aka, o ka olelo i lohea, aole ia i hoopomaikai ia lakou, i ka hoopili ole ia me ka manaoio iloko o ka poe i lohe.
3Về phần chúng ta là kẻ đã tin, thì vào sự yên nghỉ, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Nầy là lời thề ta đã lập trong cơn thạnh nộ: Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ ta!... Dầu vậy, công việc của Ngài đã xong rồi từ buổi sáng thế.
3Aka hoi, o kakou ka poe manaoio ke komo iloko o kahi maha, me ia kana olelo ana, Pela hoi aui ko'u huhu i. hoohiki ai, aole lakou e komo iloko o ko'u wahi maha; oia hoi i ka pau ana o na hana mahope iho o ka hookumu ana o ke ao nei.
4Vì luận về ngày thứ bảy, có chép rằng: Ngày thứ bảy Đức Chúa Trời nghỉ cả các công việc Ngài.
4No ka mea, ua olelo mai ia ma kekahi wahi no ka hiku o ka la, peneia, I ka hiku o ka la i hoomaha'i ke Akua i kana mau hana a pau.
5Lại một chỗ khác có chép rằng: Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ ta.
5Eia hoi peneia, Aole lakou e komo iloko o ko'u wahi maha.
6Như vậy, vì đã dành cho mấy người phải vào đó, và vì những kẻ nghe tin lành ấy trước nhất đã không vào đó bởi chẳng tin,
6Oia hoi, no ke koe ana mai o ke komo ana o kekahi poe iloko o ua mea la, a o ka poe i hai mua ia'ku ai keia pono, aole lakou i komo no ka manaoio ole;
7nên về sau lâu lắm, trong một thơ của Đa-vít, Chúa lại định một ngày nữa gọi là “Ngày nay,” như trên kia đã dẫn rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng.
7Ua hoakaka hou mai ia i kekahi la, e olelo ana ma Davida, I keia la, i ka manawa mahope loa mai; ua oleloia mai peneia, I keia la i ko oukou lohe ana i kona leo, mai hoopaakiki i ko oukou naau.
8Vả, nếu Giô-suê đã cho họ yên nghỉ, thì chắc sau không còn nói về một ngày khác nữa.
8No ka mea, ina ua hoomaha aku o Iosua ia lakou, ina aole ia i olelo hou no kekahi la okoa.
9Vậy thì còn lại một ngày yên nghỉ cho dân Đức Chúa Trời.
9Nolaila hoi, e waiho ana no he wahi maha no na kanaka o ke Akua.
10Vì ai vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, thì nghỉ công việc mình, cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc của Ngài vậy.
10A o ka mea hoi i komo iloko o kona wahi maha, ua hoomaha no ia i kana mau hana iho, me ke Akua la hoi i hoomaha ai i kana.
11Vậy, chúng ta phải gắng sức vào sự yên nghỉ đó, hầu cho không có một người nào trong chúng ta theo gương kẻ chẳng tin kia mà vấp ngã.
11No ia mea, e hooikaika nui kakou e komo iloko o ia wahi maha, i ole ai e haule kekahi mamuli o ua manaoio ole la.
12Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.
12No ka mea, he ikaika, he mana hoi ko ka olelo a ke Akua, he oi nui kona mamua o ko ka pahikaua oi lua, e o ana a kaawale ke ola a me ka uhane, o na ami a me ka lolo; oia ka lunakanawai no ka noonoo a me ka naau.
13Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại,
13Aohe mea nalo i kona maka; aka, ua weheia, a ua akaka loa na mea a pau i ka maka o ka mea ia ia kakou e hai aku ai.
14Aáy vậy, vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin.
14A, no ka loaa ana ia kakou ke kahuna nui, i hala aku i na lani, o Iesu, ke Keiki a ke Akua, e hoopaa kakou i ko kakou hooiaio ana.
15Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.
15No ka mea, aole ia kakou ke kahuna i aloha ole mai i ko kakou nawaliwali; aka, o kekahi i hoowalewaleia'ku i na mea a pau me kakou la i hoowalewaleia mai ai, aole hoi ona hala.
16Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.
16Nolaila, e hookokoke aku kakou ma ka nohoalii aloha me ka manaolana, i alohaia mai kakou, a i loaa hoi ka lokomaikai e kokua mai ai i ka wa popilikia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.